Truy cập

Hôm nay:
57
Hôm qua:
69
Tuần này:
548
Tháng này:
4565
Tất cả:
123239

Ý kiến thăm dò

Lịch sử Hoằng Lưu

Ngày 03/04/2019 09:15:37

Năm 2010 là năm có nhiều sự kiện trọng đại của đất nước: Kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, 65 năm ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 40 năm ngày giải phóng miền nam thống nhất đất nước, 80 năm ngày thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên tại Hoằng Hoá, 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

 

 

Thực hiện Chỉ thị số 15 – CTTW ngày 28 tháng 08 năm 2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 11 – CTHU ngày 23 tháng 6 năm 2004 của Ban Thường vụ Hoằng Hoá về việc biên soạn lịch sử đảng bộ, chi bộ cơ sở, Ban chấp hành Đảng bộ xã ra Nghị quyết về việc sưu tầm và biên soạn tác phẩm "Lịch sử đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân xã Hoằng Lưu (1930 – 2010)”.

Lịch sử ra đời nhằm nghi lại những sự kiện chính yếu về vùng đất, con người, những sự việc cụ thể tiêu biểu trong quá trình hoạt động của xã Hoằng Lưu từ xa xưa cho đến ngày nay; rút ra bài học bổ ích, thiết thực nhằm phát huy mạnh mẽ truyền thống yếu nước, cách mạng xưa vào trong thời kỳ đổi mới.

Trong quá trình sưu tầm, biên soạn được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, sự đóng góp nhiệt tình của các ban, ngành, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân thị trấn; đặc biệt là sự đóng góp nhiệt tình của các đồng chí nguyên là cán bộ chủ chốt qua các thời kỳ trong việc cung cấp, bổ sung, xác minh tư liệu cho cuốn kỷ yếu. Tuy nhiên, trong quá trình sưu tầm, biên soạn không thể không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các đồng chí cán bộ, đảng viên, nhân dân và đông đảo bạn đọc đóng góp ý kiến.

Ban chấp hành Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc xã Hoằng Lưu  xin chân thành cảm ơn các cơ quan cấp trên, các ban, ngành, đoàn thể, các đồng chí, cán bộ, đảng viên và nhân dân đã nhiệt tình tham gia đóng góp cho sự hoàn thành cuốn sách này.

 

    Bí thư BCH Đảng bộ                                                          

 

                                                                      Nguyễn Thị Nhiễu                                                             

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ.

I- VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – ĐIỀU KIỆN TỰ NHIỆN VÀ Xà HỘI.

1. Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên:

Hoằng Lưu là xã thuần nông, nằm phía Đông Nam huyện Hoằng Hoá cách trung tâm huyện lỵ 7 km, nằm ở hai cửa biển Lạch Trường và Lạch Trào.

Phía Bắc giáp Hoằng Ngọc, Hoằng Đạo

Phía Tây giáp Hoằng Thắng, Hoằng Thành.

Phía Nam giáp Hoằng Phong

Phía Đông giáp Sông Cung

Diên tích tự nhiên 584,85 ha trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp 441.02 đất khác143,83. Dân số toàn xã là 5828 người.

Địa hình của xã Hoằng Lưu tương đối bằng phẳng được hình thành sau các đợt bồi đắp, biển lùi, vùng đất này ra đời cùng với sự hình thành đồng bằng Hoằng Hoá vào cuối kỷ đệ tứ. Sau thời kỳ này nơi đây là những cồn cát hoang vắng, những bãi sình lầy su vẹt, cỏ dại, cây cối um tùm, rậm rạp, là nơi sinh sống của nhiều loài muông thú.

Do được bao bọc bởi sông Mã, sông Cung nên là dạng địa hình châu thổ với các loại đất:

Đất pha cát, do phù sa cổ bồi đắp lâu đời tạo thành, ác vùng đất này rất thích hợp cho việc trồng màu.

Đất bùn, đất thịt do công cuộc quai đê, lấn biển mà thành, loại đất thích hợp với việc trồng cây lúa nước.

Đất phù sa mới được bồi đắp hai bên bờ sông cung nhưng bị nhiễm mặn thích hợp cho việc cải tạo nuôi trồng thuỷ sản

Khí hậu xã Hoằng Lưu mang đặc trương của khí hậu nhiệt đới gió mùa của Miền Bắc Việt Nam, nắng ẩm mưa nhiều. Thời tiết được chia thành bốn mùa rõ rệt Xuân, Hạ, Thu, Đông nên phù hợp với các loại cây trồng vùng nhiệt đới như: Lúa, ngô, khoai, sắn; các loại cây ăn quả.

Hệ thống sông ngòi khá phong phú. Phía đông là con sông Cung còn gọi là sông Cầu Cách thông với hai cửa Lạch Trường và Lạch Trào chảy thành vòng cung ôm lấy các xã ven biển. Con sông này trước đây là tuyến vận tải hài hải nội địa kín đáo, cung cấp lượng nước tiêu quan trọng cho nền xản xuất nông nghiệp của xã. Dọc bờ sông là tuyến đê ngăn nước lợ và vùng nước ngọt  chạy từ Hoằng Thắng qua Hoằng Lưu đến Hoằng Phong, đê dài khoảng 4km, trên bề mặt đê có hai cống tiêu nước. Sông Cồn Voi dài khoảng 2 km chảy ra cống Cồn Voi, sông Đồng chánh dài khoảng 1 km chảy ra cống Đồng Chánh, sông tiêu Thắng Lưu dài khoảng 3,5 km chảy ra cống Ba cửa Hoằng Phong, các con sông này đều đổ ra sông Cung.

Người dân trong xã xưa kia đi đến xá xã khác bằng các tuyến đường mòn, ngoài ra còn đi bằng thuyền, mãngđể ngược lên các huyện miền núi dọc theo sông Cung ra cửa Lạch Trường, Lạch Trào, ra biển đi tới các tỉnh bạn. Qua thời gian các tuyến đường giao thông  liên xã, liên xóm, liên thôn được mở rộng, đào đắp, tu bổ tạo điều kiện cho nhân dân đi lại dễ dàng thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu văn hoá với bên ngoài.

Tuy nhiên Hoằng Lưu cũng là khu vực ảnh hưởng nhiều của tiểu vùng khí hậu ven biển đặt biệt là lượng mưa và tốc độ gió. Hàng năm có các đợt gió bão, gió mùa Đông bắc và các luồng gió từ Biển Đông tràn vào. Tốc độ gió ở đây khá mạnh, nhất là gió mặt đất, gió biển; gió Phơn Tây nam vào mùa hè tràn xuống tạo cái nóng dữ dội, ngột ngạt, điều đó cũng khiên cho ngay trong một xã chế độ nước cũng có phần khác nhau, nứoc ở xóm 1, xóm 2 Phượng Khê  bị nhiễm nặm hơn các thôn Phượng Ngô, Nghĩa phú, Phục Lễ.

Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên trên đây đã mang đến những đặc điểm riêng của nhân dân xã Hoằng Lưu. Đây cũng chính là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nên xã Hoằng Lưu ngày nay.

2. Quá trình hình thành làng xã.

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu khảo cổ học, cộng đồng dân cư Hoằng Hoá có mặt sớm nhất trên địa bàn huyện vào trước giai đoạn văn hoá Đông Sơn. Với sự phát hiện di chỉ khảo cổ học Quỳ Chữ (Hoằng Quỳ) cho phép chúng ta tạm xác định, trên địa bàn Hoằng Hoá đã có sự hiện diện của những nhóm cộng đồng dân cư cổ có niên đại cách ngày nay trên dười 3.500 năm.

Quá trình khai phá miền đồng bằng, vùng ven biển Hoằng Hoá diễn ra trong nhiều thế kỷ. Theo tính toán vào giữa thế kỷ thứ X, dân cư Hoằng Hoá đã khá đông đúc, nhiều thôn, ấp ra đời.

Ngày nay thông qua một số tài liệu đã được xuất bản, qua các câu truyện truyền thuyết, phong tục tập quán, tín ngường và qua các tư liệu ghi chép tư gia phả của một số dòng họ: Họ Lương, họ Lường, họ Nguyễn, họ Lê ta nhận biết được đôi nét về sự hình thành làng mãnh đất và con người xã Hoằng Lưu.

Vào thời nhà Đinh nơi đây còn là rừng rậm rạp, có nhiều loại thú sinh sống, tuy nhiên cũng đã có lác đác một số cư dân đến sinh sống bằng nghề chài lưới, săn bắn và trồng cây lúa nước.

Đến đầu thời nhà Lý có một vị quan võ người họ Vũ ở đất Hồng Châu phủ Kim Môn huyện Đông Triều Trang Hoàng Xá nhận lệnh vua đi kinh lý đến vùng đất này. Thấy vị trí nới đây có nhiều thuận lợi, có sông, có biển liền kề, đất đai phì nhiêu, màu mỡ bèn lập đồn trang trại tại Hữu Vĩnh Trang, sau lập thêm Phượng Lệch Trang và Triều Hải Trang nên gọi là làng Trào Hải (2)

Theo tộc phả họ Lê Văn, họ Lê Văn di cư từ Hạu Lộc vào, tộc phả ghi lại dân cư buối đầu còn thưa thớt, sau đông dần, nhất là thời Nhà Trần trở đi khi chế độ Điền Trang Thái Ấp của nNhà Lý bị khủng hoảng, cùng với đó là những cuộc chiến tranh liên miên xảy ra, nhiều nông dân miền Bắc rời làng mạc di cư vào một số vùng đất Thanh Hoá, Nghệ An sinh sống.

Sau một thời gian sinh sống, các khu dân cư dần trở nên đông đúc và đã hình thành nên các làng. Vào đầu thế kỷ XIX  các làng của xã Hoằng Lưu nằm trong nhiều xã, nhiều tổng: Thôn Khê Xá thuộc tổng Hành Vĩ; thôn Nghĩa Lập – xã Phượng Lịch thuộc tổng Bái Kiều; thôn Phú Lễ – xã Liên Châu và thôn Phục Lễ – xã Hữu Vĩnh thuộc tổng Bái Cầu.(khong tìm thấy tên Phượng Ngô hay là Phượng Ngô lúc ấy có tên là thôn Phượng Lịch)

 Từ cuối thế kỷ XIX thôn Khê Xá (xã Khê Xá) thuộc tổng Hành Vĩ; các thôn Phục Lễ, Nghĩa Lập, Phú Lễ, Phượng Lịch (có phải là phượng ngô ?) nằm trong xã Hữu Vĩnh thuộc tổng Bái Trạch.

Đến trước cách mạng tháng 8/1945 hầu hết các làng của xã Hoằng Lưu thuộc tổng Bái Trạch và nằm trong 2 xã: xã Hữu Vĩnh và xã phượng Ngô (làng Đồng, làng Phượng, làng Chùa).

- Xã Hữu Vĩnh gồm có 3 thôn: Phục Lễ (Hoằng Lưu), Ngọc Long, Phong Mỹ (Hoằng Phong).

- Xã Phượng Ngô gồm có 3 thôn: Phượng Ngô, Nghĩa Lập và Phú Lễ.

Cách mạng tháng 8 thành công, đầu năm 1946 Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) quy định lấy làng xã là cấp hành chính thứ tư, bỏ Tổng là cấp trung gian, trên cơ sở đó toàn huyện Hoằng Hoá được lập thành 54 xã mới. Bốn làng Phục Lễ, Phượng Ngô, Nghĩa Lập và Phú Lễ thuộc xã Trào Âm.

Đầu năm 1947 nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc. Thi hành Nghị định của Chính phủ, các đơn vị hành chính cấp xã được tổ chức lại và thành lập Uỷ ban hành chính – kháng chiến các cấp. Với tinh thần đó, tháng 3 năm 1947 huyện Hoằng Hoá tiến hành sáp nhập 54 xã thành 12 xã lớn, các làng của xã Hoằng Lưu (xã Trào Âm) được sáp nhập và xã Hoằng Châu.

Lúc bấy giờ Hoằng Lưu nằm trong xã Hoằng Châu, đến năm 1949 trong thời kỳ giảm tô toàn huyện lại được chia làm 27 xã, xã Hoằng Châu lại được tách ra thành 2 xã Hoằng Châu và Hoằng Phong. Xã Hoằng Lưu là một phần của xã Hoằng Phong lúc bấy giờ.

Tháng 6 năm 1953, Hoằng Lưu được tách ra từ Hoằng Phong, Hoằng Lưu lúc bấy giờ gồm 4 thôn là: Phượng Ngô, Nghĩa Lập, Phú Lễ và Phục Lễ. Đến cuối năm 1953 đầu năm 1954 thôn Khê Xá thuộc xã Hoằng Đạo sát nhập vào xã Hoằng Lưu và đổi tên là thôn Phượng Khê, đến năm 19...thôn Phượng Ngô tách ra thành thôn Phượng Ngô 1 và Phượng Ngô 2.

Như vậy, tên gọi xã Hoằng Lưu  xuất hiện từ  năm 1953 và từ đó đến nay thì địa giới hành chính được ổn định. Xã hiện có 6 thôn, 19 xóm gồm:

Thôn Phục Lễ: Xóm Nội Tiến, Trung Kiên, Quyết Tiến, Thắng Lợi.

Thôn Nghĩa Phú (trước là Phú Lễ): Xóm Cao, xóm Nguyễn, xóm Sau, xóm Ao.

Thôn Nghĩa Lập: Xóm Trong, xóm Ngoài.

Thôn Phượng Ngô 1: Xóm Dâu, xóm Đình, xóm Ao.

 Thôn Phượng Ngô 2: Xóm Tổng, xóm Bái.

Thôn Phượng Khê: Xóm Nam Sơn, Bắc Giang, Lưu 1, Lưu 2.

II. TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ.

1. Truyền thống đoàn kết và cần cù lao động.

          Cũng giống như bao làng quê ở Việt Nam, các làng ở Hoằng Lưu xưa kia cũng là một tập hợp người sống chung với nhau dưới một mái nhà trên một khoảng đất cao ráo, bằng phẳng, có luỹ tre bao bọc, một vài làng có điếm canh. Trong làng có chùa, đình, nghè, quán thờ, miếu, nhà thờ dòng họ, có đường làng, đồng ruộng, cây đa, giếng nước, chợ làng. Bởi vậy ản chứa một linh hồn, một tâm lý cố kết cộng đồng, trong đó tính chất bình đẳng dân chủ thô sơ còn khá rõ. Hầu hết ở mỗi làng đều có một tính cách, sắc thái riêng. Ở mỗi làng đều có khoáng ước, điều lệ tự đặt ra và cả những quy định không thành văn từ rất lâu đời buộc mọi người phải phục tùng và nó đã trở thành luật làng từ bao giờ. Mọi người trong làng “Tắt lửa tối đèn có nhau”, “Lá lành đùm lá rách” trong lúc khó khăn hoạn nạn. Mỗi thành viên trong làng đều có trách nhiệm bảo vệ nhau khi ai đó bị xúc phạm, đánh đập, điều đó đã được quy định trong luật làng do vậy buộc mọi người không thể thờ ơ với nhau được. Làng luân là cõi đi – về, nơi hướng về cuội nguồn của các thế hệ người Hoằng Lưu khi đi xa, trong mỗi con người đều có niềm tự  hào riêng của làng mình.

Yếu tố đoàn kết ấy đã trở thành truyền thống gắn liền với truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động từ ngàn xưa các tầng lớp nhân dân trong xã. Từ mảnh đất hoang vu (Còn cao bãi thổ) và "Thung lũng lầy lội" qua thế hệ này đến thế hệ khác với sự say mê trong lao động cư dân đã chế ngự và cải tạo được thiên nhiên để lập ra những cánh đồng trồng màu và trồng lúa 2 vụ, như đồng làng "Phượng Ngô", đồng chánh, đồng thuỷ "Nghĩa Lập", đồng chùa "Phú Lễ" và đồng báu "Ngọc Long", đồng vĩnh "Phục Lễ", đồng nát, đồng điều, đồng củi, đồng chánh "Phượng Khê", đây là cơ sở hình thành nên các làng mạc trù phú, đông đúc như ngày nay.

Thuở ban đầu chỉ là việc khai phá rừng rậm, vỡ hoang, sau này thêm be bờ, đắp những con trạch nhỏ ngăn mặn, trồng cây chắn sóng đã trở thành thường xuyên. Đặc biệt, vào những năm đầu Thế kỷ XX, dưới dự chủ trì của cụ Lương Tái Tạo (1) nhân dân ba xã lúc bấy giờ (xã Hữu Vĩnh, Phượng Lịch, Hội Triều) đã tiến hành công cuộc quai đê, lấn biến với quy mô lớn, bao quanh vùng tiêu ba xã. Công trình này bắt đầu từ năm 1917 đến năm 1926 và được chia thành 4 đợt, mở được hàng ngàn mẫu ruộng chia cho nhân dân làm đất canh tác.

Mỗi địa danh xóm, làng, đồng ruộng của Hoằng Lưu ngày nay đều gắn liền với công cuộc khai hoang, phục hoá, trị thuỷ cải tạo tự nhiên như: Đất Bái, Hàn Vàu, Cồn Bến Cát, Mã Đài, Lá Cờ, Cây Xanh, Cồn Núi, Rọc Miễu, Cổ Ngựa, Dứa nàng, Văn Chỉ, hàn Đa, bãi Bố, Rọc Thưa, Vườn Cẩn, Vườn Trầu...

Các cánh đồng hiện nay là thành quả của quá trình lao động miệt mài, không ngừng nghỉ của cư dân Hoằng Lưu trong suốt chiều dài lịch sử. Những năm gần đây Hoằng Lưu đã cơ bản giải quyết tình trạng úng lụt, lúc nào mọi người cũng ghi nhớ và làm theo câu ca dao:

“Nước lụt thì lút cả làng

Đắp đê chống lụt thiếp, chàng cùng lo”

Từ xa xưa cho đến ngày nay, đa số cư dân vẫn sống bằng nghề nông. Ngoài trồng cây lúa nước là chính, họ còn trồng nhiều lại cây mày khác khá thành thục như: cây ngô, khoai, sắn, kạc, đậu, vừng, cà, kê và một số cây công nghiệp ngắn ngày như: cây đay, bông, mía, dâu cùng nhiều loại rau củ quả phục vụ sinh hoạt và trao đổi ra bên ngoài. Nhờ chất đất và bàn tay chăm bón của con người, nhiều giống lúa xưa kia như Nếp cái hoa vàng, lúa Chành, lúa Lốc, lúa Hiên và giờ đã trở thành đặc sản của địa phương nổi tiếng một thời khắp vùng đông nam huyện Hoằng Hoá. Điều này được thể hiện qua câu vè còn lưu truyền trong nhân dân:

“Cu cu nấu cháo gạo chành

Ăn năm bảy bát còn dành phần nhau”

Ngoài nghè nông là chủ yếu, một số gia đình tận dụng lúc nông nhàn trồng dâu, nuôi tằm, kéo sợi, dệt vải, làm thừng, làm gạch ngói, đan lát để dùng hoặc đem bán.

Việc chăn nuôi gà, lợn, trâu, bò có từ lâu đời, hầu như gia đình nào chũng chăn nuôi một vài con lơn khi tết đến, xuân về dem mổ thịt, sắm cỗ. Việc thuần dưỡng trâu, bò làm sức kéo là vô vùng quan trọng, nhất là những năm trước cách mạng tháng 8/1945, gia đình nào nuôi trâu bò là những gia đình khá giả. Những năm gần đây việc nuôi trâu, bò, lợ đã trở thành phổ biến rộng rãi, đáp ứng nhu cầu về sức kéo, thực phẩm và nguồn thu nhập cho nhân dân.

Là một xã có diện tích tương đối rộng, việc nuôi vịt, ngan, ngỗng rất thuận lợi. Những năm đầu thế kỷ XX, một số gia đình một số gia đình vẵn đánh bắt cá, tôm, hải sản khác tại cửu sông, cửa biển. Về sau người dân đã biệt lợi dụng nước triều nuôi cá theo tính quảng canh. Xuất phát từ kinh nghiệm truyền thống này mà những năm gần đây khi có chủ trương khoán cho từng hộ gia đình, đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 02-NQ/UH của Ban Chấp hành huyện Hoằng Hoá về việc nuôi trồng thuỷ sản. Đảng bộ và nhân dân trong xã đã phát huy tiềm năng của địa phương đã mạnh dạn đầu tư, quy hoạch phát triển vùng nuôi tôm, cá. Hiện nay toàn xã có trên 50 ha đất chuyên dùng nuôi trồng thuỷ sản. Đây là nguồn thu quan trọng đối với nhiều hội gia đình và ngân sách địa phương.

Việc trao đổi mua, bán những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đối với người dân địa phương thông qua hệ thống chợ làng, chợ hôm, chợ tuần. Xưa kia, cả xã có một chợ Chùa, hàng hoá chủ yếu là nông sản, hải sản. Mỗi khi có nhu cầu mua sắm lớn người dân có thể đi đến các chợ khác trong huyện như: chợ Quăng (Hoằng lộc), chợ Bút (Hoằng Phúc), chợ rọc (Hoằng Châu), chợ Đền (Hoằng Thắng)...Ngày nay do giao thông được mở mang, đi lại dễ dàng, việc giao lưu, trao đổi hàng hoá ngày càng trở nên thuận tiện. Thành phẩm của người lao đọng không cần đem đến chợ mà người mua có thể đến tận nhà, ra tận đồng ruộng mua hàng. Nhiều cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh đủ các loại mặt hàng mở ra ngay tại các gia đình phục kịp thời cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của nhân dân địa phương.

Trên cơ sở đoàn kết cần cù lao động mà nhân dân trong xã đã xây nên nhiều truyền thống đạo nghĩa tốt đẹp. Tình làng nghĩa xóm mặn mà ấm áp hàng trăm năm. Nghĩa Lập và Phú Lễ sống xen cách nhau xen canh, xen cư bên nhau vẫn luôn giữ được mối hoà thuận cho đến ngày nay gọi chung là Nghĩa Phú - Khê Xá và một phần của Phượng Ngô xen canh, xen cư bên nay gọi là Phượng Khê.

2. Truyền thống văn hoá.

Hoằng lưu xưa có một quần thể văn hóa tâm linh gồm: Đền, chùa, nghè, phủ, đình, văn  chỉ, đây được coi là một nơi giữ gìn hồn thiêng sông núi và là cơ sở bảo trợ đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân. Bởi vậy tất cả đều được xây dựng một cách uy nghi. Đình thường được xây ở giữa làng còn đền, chùa, miếu, phủ thường được dựng ở bìa làng, nơi ít người qua lại tạo vẻ thâm nghiêm.

Trước năm 1954 trên địa ban xã Hoằng Lưu có ngôi chùa Trào và cả xã có 6 ngôi đình gồm: Đình Phục Lễ, đình Phú Lễ, đình Nghĩa Lập, đình Đất, đình Phượng Ngô, đình Khê Xá. Trong đời sống dân gian đình và chùa là nơi sinh hoạt văn hoá cổ truyền. Xưa kia không mấy ai được cắp sách tới trường. Đình chùa là nơi nhiều lần tổ chức giảng kinh và luân thường cho dân chúng, góp phần đảm bảo an ninh cho mọi gia đình và xã tắc. Chính nhà chùa đã bổ sung nét “từ bi, bác ai” “ở hiền gặp lành” cho con người nên đã cuốn hút, quy tụ được nhiều người dân. Do vậy, người ta ví đình là cái “hồn” của làng, chùa là cái “đạo” của làng. Trong những năm 30, 40, 50 của thế kỷ XX, đình chùa còn là nơi hội họp của các tổ chức đoàn thể yêu nước cách mạng, hơi tập hợp quàn chúng học tập chủ trương, đường lối cứu nước, noi tập luyện của các lực lượng tự vệ, nơi đấu tổ địa chủ cường hào...

Do hạn chế của thời điểm lịch sử, đình chùa Hoằng Lưu cũng như ở nhiều nơi khác đã bị tháo dỡ ồ ạt vào cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thể kỷ trước. Trong những năm gẫn đây, do yêu cầu khách quan và chủ trương của cấp trên, yêu cầu môix làng phải có mọtt công trình văn hoá để dân lang làm nơi hội họp, sinh hoạt chính trị, văn hoá xã hội. Vì vậy những ngôi đình xưa trong tâm thức của người dân nay dược sống lại cùng với tên gọi “nhà văn hoá”. Nhà văn hoá ngày nay đã thực sự trở thành tụ điểm sinh hoạt cộng đồng ở đó người nay có dịp về đối thoại với người xưa.

Ngoài hệ thống đình, chùa, ở Hoằng Lưu phải kể đến các nhừ thờ của các dòng họ, lăng mộ của những người đã có công với nước hiện nay đang được vun đắp và tồn tại như một thực thể sống động, nó cũng xứng đáng như các công trình văn hoá như nhà thờ Tướng quan Lê Văn Thâu, Quận công Lê Ngọc Luận, nhà thờ họ Lường được xếp hàng văn hoá cấp tỉnh.

Phong tục tập quán và tín ngưỡng của người dân trong xã cũng rất phong phú và đa dạng. Việc thờ phụng tổ tiên được người dân xem như chuẩn mực đạo đức của một con người. Mọi người dân luôn coi công lao đóng góp của các thế hệ cha ông đối với việc làng việc nước trong quá trình lịch sử là niềm kiêu hãnh đối với các thế hệ con cháu. Cụm từ “họ ta” “làng ta” gắn bó máu thịt với mối quan hệ huyết tộc, với những lễ tục riêng biệt, với sự tồn vong vinh hiển của một dòng họ, một làng, một xã. Hầu hết các dàng họ trong xã đều có nhà thờ, nó như là một cứ điểm của tiếng vang trong tâm linh về một quá khứ vàng son của cha ông mình.

Những dòng họ chưa có nhà thờ thì nhà trưởng tộc được coi như nhà thờ họ, vào các ngày dỗ, tế họ, các dịp xây mộ tổ, tu bổ nhà thờ họ, lập gia phả họ, con cháu trong dòng dọ quy tụ đông dủ cùng nhau dọn dẹp, sắm cỗ với thái độ thành kính, nghiêm túc. Đây là dịp duy trì các mối liên kết tình cảm huết thống, giữ được tôn ti, trật tự về đạo đức ngày càng bệt chặt. Ngoài ra mỗi gia đình đều có bàn thờ gia tiên đặt tại nơi trang trọng nhất để thờ ông bà, cha mẹ và những người thân đã khuất.

Việc thờ thành Hoàng làng: Theo Jencoulet – một tác giả người Pháp đã viết “việc thờ phụng ông bà tổ tiên là là tượng trưng cho gia đình và việc nối dõi tổ tông, sự thờ phùng Thành Hoàng tượng trưng cho làng, xã và sự trường tồn của nhân dân” (1).

Hầu hết các làng ở Hoằng Lưu đều thờ Thành Hoàng của làng mình. Theo họ. Thành Hoàng là thần linh cai quản toàn thể thôn làng, che chở cho nhân dân trong làng, trong xã tránh khỏi những hung thần, phù hộ cho cho dân làng được thình vượng. Làng Phú lễ, Nghĩa Lập, phục Lễ, Phượng Ngô thờ thần Lê sỹ Phấn tại Nghè ba xã gọi là ông Phấn Thổ Đại Vương. Làng Phượng Khê thờ ông Nguyễn Trung Sơn.

Bê cạnh tín ngường Thành Hoàng là tín ngưỡng Thổ địa, tín ngưỡng đa thần. Ông thần đất của làng xuất phát từ quan niệm Đất có thổ công, Sông có Hà bá. Thổ thần được thờ tại miếu hay chùa và ngay trong nhà mình ở. Xưa kia tại nhiều đoàn của sông mã hay cửa biển người ta còn lập am hay miếu nhỏ thờ thần hà bá.

Hình thức tín ngưỡng đa thần được phản ánh rõ nét trong việc thờ phùng ở chùa Trào (1), đây là một trong những ngôi chùa lớn nhất trong huyện. Trong chùa có 42 pho tượng thờ các Đức Phật: Tam thế, Adiđà, Bồ tát, Tam tôn, Thích Ca, Vi Đà, thổ Địa, Thái Thượng Lão Quân, Tứ vị Đại Vương, Tam toà Thành Mẫu, Tứ phủ Công đồng, các đức ông thượng điện còng long Thần, tả Bộ hộ và Hữu Bộ long Quân, Đức Thánh bà (không phải là Thánh Mẫu), thờ cả 2 quan Trung (tương truyền là con cháu của Liễu Hạnh Công chúa và hai vị sư trước đó).

Như vậy ngôi chùa thờ cả Phật, Lão, Khổng, Thần và tín ngưỡng dân gian. Nó phản ánh đặc sắc tín ngưỡng đa thần của văn hoá làng quê, phương thức tư duy bao dung, cởi mở của người Việt.

Các phong tục tập quán trong nhân dân rất phong phú và đa dạng, có giá trị giáo dục to lớn cho các thế hệ mai sau. Xưa kia, người dân luân sống trong cảnh khó khăn, túng bấn, cuộc sống vô cùng khó khăn, tinh thần tương thân, tương ái được mọi người phát huy. Ở Hoằng Lưu tục cới hỏi, ma chay tiến hành theo thể thức người Kinh. Trong cưới hỏi trải qua các bước: tìm hiểu, dạm hỏi, xin cưới, lễ cưới, lễ lại mặt; viện tang qua các bước: Lễ khâm liệm, lễ Hành phục, lễ Cúng cơm, lễ tế Thổ thần, lễ Tập đòn, lễ Dấu, lễ hạ huyệt, lễ Chầu tổ, lễ ba ngày, bốn chính ngày...

Các ngày lễ, tế trong năm được người dân tổ chức tươi vui, tạo không khí phấn khởi, động viên mỗi người hăng say lao động, học tập và làm việc. Tết Nguyên đán là phong tục cổ truyền của người Việt, là dịp dân làng tổ chức ăn tết, vui chơi to nhất trong năm. Việc chuẩn bị ăn tết được chuẩn bị rất chu đáo. Vào ngày cuối cùng của năm cũ, các gia đình ra ra mộ tổ của dòng họ mình dọn dẹp, thắp hương mời ông bà tổ tiên về ăn tết. Ngày 30 mươi tết cúng gia tiên gọi là rước Ông vải. Đêm 30 làm lễ trừ tịch tại Đình làng thờ Thành Hoàng. Đúng giờ Tý đầu năm mọi gia đình đều có cỗ cúng Giao thừa. Ngày mùng Một là ngày quan trọng nhất của ba ngày tết, buổi sáng sau khi cúng gia tiên, các gia đình đến nhà nhau để chúc tết hoặng đến nhà thờ họ để thắp hương

Ngoài ra dân làng còn tổ chức ăn tết, ăn rằm vào các ngày khác trong năm như: Tết Khai hạ (ngày 7 tháng giêng), tế rằm Tháng giêng (15 tháng 1 âm lịch), tết Thanh minh (mùng 3 tháng 3 âm lịch), lễ bụt sinh (mùng 8 tháng 4 âm lịch), tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch), rằm tháng 7, rằm tháng 8. vài chục năm sau Cách mạng Tháng 8/1945 nhân dân còn tổ chức ăn tết độc lập (ngỳa 2 tháng 9 dương lịch).

Lễ, hội xưa và nay được xem như là một hoạt động văn hoá đặc sắc của nhân dân. Những ngày này không khí trong làng, xã nhộn nhịp hẵn lên, ai ai cũng chờ ngày vui tốt lành sắp tới. Hàng năm vào ngày mùng 2, mùng 3 tháng 2 âm lịch nhân dân 2 xã Hoằng Lưu và Hoằng phong tổ chức lễ, hội linh đình tại Nghè ba xã (1). Nghè thờ thần Vũ Viết Thành (sau đổi là Lê Sỹ Phấn).

Theo Ngọc phả của Nghè trước bia thì thân phụ của thần làm quan đại thần vào thời nhà Lý ở đất Hồng Châu phủ Kinh Môn, huyện Đông Triều, trang Hà Xá. Thần lúc đó võ nghệ tinh thông, lại han săn bắn. Năm 21 tuổi giúp Vua dẹp gặc Ai Lao, sau đó phụng mệnh vua đi kinh lý vào Giáp Cổ Đằng (tên huyện Hoằng Hoá xưa). Nhận thấy vị trí nới đây thuận lợi, đất đai màu mỡ, vừa có sông, có biển liền kề bèn lập đồn trại tại hữu Vĩnh Trang sau lập nên Phượng Lịch Trang và Triều Hải Trang. Ba trang này sau đổi tên thành ba xã thường gọi là Tam xã, Bát thôn. Xã Phượng Lịch gồm: Phượng Ngô, Nghĩa Lập, Phú Lễ, xã Hữu Vĩnh gồm: Phục Lễ (xã Hoằng Lưu) và thôn Ngọc Long, Phong Mỹ, Thuỵ Liên (Hoằng Phong) ngày nay, xã Hội Triều (nhất xã, nhất thôn).

Vũ Viết Thành lấy vợ người Phượng Lịch. Một năm vào ngày 2 tháng 2 âm lịch, ông tổ chức đi săn chẳng may bị hổ giảo, dân Phục Lễ đi rải tìm thấy thi thể ông bị mối xông thành hình ngôi mộ. Triều đình nhà vua được tin sắc phong “Phấn lại Đại Vương, Thượng đẳng phúc thần”, đến đời Hậu Lê niên hiệu Hồng Đức, vua sắc phong đổi thành “Phấn Lại Đại Vương” và ban Quốc tích họ Lê nên thường gọi là Lê Sỹ Phấn.

Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Hữu Cầu lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa ở Bắc bộ, nhưng sau thất thế chạy vào Nghệ An, qua cửa Hội triều gặp sông Mã chặn ngang ở phía trước. Ông vào Nghè Ba xã khấn xin ngựa ngỗ làm phao bơi qua sông Mã và đã trốn thoát. Chúa Trịnh thấy vậy liền hạ chiếu truất xuống “Liệt đẳng Thần” và sai đóng gông bát hương lại. Đến thế kỷ XIX Nhà Nguyễn phục hồi lại công trạng của thần và sắc phong là “Phấn Thổ Đại Vương Thượng đẳng Tối Linh thần”. Đền thờ thần được gọi là Nghè ba xã.

Trong ba xã, tám thôn lúc bấy giờ, chỉ có ba thôn được đại diện làm lễ chính trong ngày giỗ thần, phân chia thứ tự như sau:

Thôn Phục Lễ xã Hữu Vĩnh là thôn có công đầu phát hiện thần bị nạn (tìm thấy mộ thần) nên được làm trưởng chủ tế. Thôn Phượng Ngô xã Phượng Lịch là thôn sinh ra vợ thần nên được tôn là Phó chủ tế, thôn Hội triều xã Hội Triều là nơi giữ gìn phần môn và nghè thờ thần nên đứng thứ ba vào hàng chủ tế.

Trong hai ngày lễ, hội, các trò vui ở các làng được đem thi thố như: thi vật, thi bắn bia, chơi cờ người, bài điếm, chọi gà, đua thuyền. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm được duy trì đến những năm 1950. Trong những năm gần đây, sau khi xây dựng đình văn hoá Phục Lễ, dân làng Phục lễ rước bát hương thờ “thần” từ nghè nơi bị phá và đình để thờ và cũng lấy ngày mùng 2 và mùng 3 tháng 2 âm lịch làm ngày hội làng; trong các ngày này nhân dân trong làng dâng lễ tế thần, đội tế chủ yếu là các cụ cao niên trog làng.

Các phong trao học tập khoa bảng là của con em trong xã từ lâu đã rất dược quan tâm,mại người đều xác định được việc mở mang dan trí bằng con đường học tập là hết sức quan trọng. Trong số những cư dân xưa của xã Hoằng lưu, có những bậc hiền tài lập nên làn xóm và có nhiều gia đình từ nơi xa chuyển đến mang theo những đặc trưng văn hóa vùng miền.

Mỗi làng xã ở Hoằng Hoá, không một làng nào, xã nào có thể nói vắng bóng các ông Thầy, trước là Thầy Đồ dạy chữ nho, sau là thầy giáo dạy chữ Quốc ngữ, thì Hoàng Lưu cũng khong ngoài sự vận động ấy. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, mồi dòng dọ, mỗi làng đều có những sĩ tử theo nghiệp bút bút nghiên và có người đã tạo nên tiếng thơm muôn đời.

Tiêu biểu cho phong trào học tập khoa bảng xưa là Nguyễn Ngô Tài (xã Hữu Vĩnh), ông đỗ Hương cống năm Ất Mão, niên hiệu Long Đức 4 (1735), đời Lê Thuần Tông. Lương Kim Huyến (Phượng Lịch), ông đỗ cử nhân khoá Canh Tuất, năm Tự đức 3 (1850), làm Tri huyện, sau bị giáng Huấn đạo rồi được thăng Đốc học Nghệ An.

Còn quá, ít bổ sung thêm………………….

3. Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm.

 

Lịch sử dụng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trãi qua hàng ngàn năm, luôn gắn liền với những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập, tự chủ. Làng quê nào, vùng miền nào trong quá trình hình thành và phát triển cũng tạo dựng nên cho quê hương truyền thống yêu nước quý báu ấy. Đi cùng dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử, người dân Hoằng lưu đã thể hiện hết mình trong các cuộc trường chinh giữ nước.

Theo Tộc phả họ Lường, vào thế kỷ thứ XVII, Phủ Nghĩa hầu Lương (lường) Văn Chánh có công đưa lưu dân Thanh Nghệ vào khai phá vùng đát Phú Yếnau khi người Chăm Pa bỏ đất lui vào sông cái nha Trang, Khánh Hoà. Vì có công di dân, lập ấp, sau khi qua đời ông được gia phong Thượng đẳng Thần, được lập đền thờ ở tuy Hoà – Phú Yên (Nay đền thờ ông được công nhận xếp hạng cấp Quốc gia)

Vào thế kỷ XVI, Lê văn Luận (xã Phượng Lịch) đã có nhiều công lao trong việc phò tá nhà Lê ổn định tình hình đất nước. Ông được nhà Lê phong làm Quận công, phó quân vương. Về sau các thế hệ con cháu của ông tiếp tục có nhiều công trạng với đất nước, trong đó có Lê Duy Thạc và Lê Duy Cương được phong Quận công. Cũng vào thời kỳ nhà Lê, năm 1618 năm thứ 9 Thánh tông niên hiệu Vĩnh Thịnh, Lê Văn Thâu được phong chức Thượng tướng quân Quận công Nguyên Soái Tổng quốc chính thượng thư.

Còn quá, ít bổ sung thêm………………….

Chương 2. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ PHONG TRÀO CÁCH MẠNG HOẰNG LƯU TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ XX ĐẾN TRƯỚC NĂM 1945.

I. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, KINH TẾ - XÃ HỘI

Sau khi dập tắt phong trào Cần Vương ở cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp thi hành chế độ cai trị nước ta theo kiểu thực dân nửa phong kiến với sự kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và bóc lột phong kiến một cách nặng nề, hà khắc.

1. Về chính trị.

Từ cấp tỉnh trở lên, bộ máy cai trị do người Pháp nắm thực quyền. Mỗi tỉnh có một Toà xứ, do người Pháp làm Công Sứ quyết định mọi công việc, còn quan Tổng đốc người Việt do Chính phủ Nam Triều cử ra, đóng vai trò thụ động.

Cấp huyện, phủ vẫn có chức tri huyện, tri phủ do người Việt nắm giữ, không có người Pháp bên cạnh, nhưng mọi việc đều tuân theo lệnh của Tòa Sứ.

Tại các tổng, bộ máy cai trị gồm Cai, phó Tổng và các làng ngoài Lý trưởng, phó lý (ở làng lớn) còn có ngũ hương gồm: hương kiểm, hương bạ, hương bản, hương dịch, hương mục.

Bên cạnh Lý Trưởng người trông coi chung thì hương kiểm là người coi việc tuần phòng, an ninh; hương bạ coi việc sinh tử, hôn thú, quản lý sổ sách giấy tờ của làng. Hương bản coi tài sản công và quỹ làng, hương mục coi việc phu phen đê điều; hương dịch coi việc tế lễ. Sau phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) thực dân Pháp cho đặt thêm Hội đồng tộc biểu ở làng xã và tăng cường chức Bang tá ở cấp huyện nhằm xoa dịu tinh thần đấu tranh và khống chế sự vùng dậy của nhân dân ta.

Đối với Hoằng Lưu, bộ máy cai trị ở làng xã cũng không ngoài thiết chế trên. Tính từ năm 1930 đến năm 1945, ở mỗi làng trong xã có hàng chục người tham gia bộ máy cơ sở, phần lớn thuộc nhà giàu có. Trong số chức sắc trên, có người cơ hội hãnh tiến, họ đã cấu kết chặt chẽ với bọn quan lại cấp trên tham nhũng cấp trên, thực hiện việc bóc lột, đàn áp, chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và đã trở thành lớp địa chủ cường hào mới có quan hệ mật thiết với chế độ thực dân nửa phong kiến. Song cũng có một bộ phận vốn xuất thân từ người lao động, có nhiều gắn bó hữu cơ với nhân dân, dòng tộc, giữ được mối quan hệ trong cộng đồng nên về sau khi được cách mạng giác ngộ, nhiều người đã hăng hái hoạt động và đóng góp tích cực cho công cuộc giải phóng dân tộc.

Từ bộ máy thống trị bóc lột theo kiểu thực dân nửa phong kiến trên đây đã làm cho các tầng lớp nhân dân ta, hầu như hết thảy, đều bị nô lệ về mọi mặt và ngày càng bị bần cùng hóa.

Nhân dân ta bị tước hết quyền tự do dân chủ, bị phân biệt đối xử hà khắc giữa nam – nữ, giàu – nghèo, tôn giáo, dân tộc, người bản địa, người ngụ cư... Mọi quyền lợi học tập, đi lại sinh hoạt chính trị đều bị hạn chế, cấm đoán. Trong đó phụ nữ là lớp người đau khổ nhất. Họ bị chế độ “trọng nam khinh nữ”, chế độ đa thê, tì thiếp ràng buộc. Họ không có quyền làm chủ gia đình chứ chưa nói gì đến xã hội. Họ không được hưởng quyền ứng cử, bầu cử vì chế độ cũ coi họ không phải là cử tri.

Phân chia loại người là hình thức hết sức khinh dân, người dân Việt Nam đi đến đâu thì người ta cũng biết là hàng người nào bằng cách chia người dân nam giới từ 18 tuổi trở lên thành ba loại và cấp cho mỗi loại người một thứ thẻ khác nhau. Thẻ đỏ cấp cho người giàu có còn gọi là thượng lưu, đi đến đâu họ cũng được kính trọng. Thẻ xanh cấp cho lớp người trung bình, còn gọi là trung lưu. Thẻ trăng cấp cho lớp người nghèo đói gọi là hạ lưu hay cùng đinh.

2. Về kinh tế.

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, kinh tế xã nhà chủ yếu là nông nghiệp.

Toàn xã tính vào đầu thế kỷ XX có khoảng trên 500 ha? diện tích tự nhiên trong đó trên 300 ha? diện tích canh tác, nhưng đất công điền, công thổ, ruộng đền chùa, phe giáp chiếm khoảng …. ha. Số dân cũng tính vào thời điểm này có khoảng ….. người.

Ruộng đất phân bổ không đều giữa các thành phần giai cấp và phương thức bóc lột tư bản kết hợp với bóc lột phong kiến đã dẫn đến sự phân hóa giai cấp ngày một mạnh và sâu sắc.

Tầng lớp địa chủ mới, hình thành dưới chế độ thuộc địa trong sự câu kết với giai cấp thống trị, âm mưu chiếm đoạt ruộng đất của nông dân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Số này trong xã có khoảng …….. hộ nhưng ruộng đất sở hữu của họ chiếm tới …....... diện tích canh tác của toàn xã. Họ làm giàu chủ yếu bằng phát canh thu tô và bóc lột nhân công, cho vay nặng lãi là chính. Tuy nhiên cũng cần có sự phân biệt.  Trong tầng lớp địa chủ cũng có người có mâu thuẫn với chính quyền thực dân phong kiến. Khi có cách mạng, họ đã dành vật chất ủng hộ công cuộc cứu nước của dân tộc

Tầng lớp nông dân là lực lượng đông đảo chiếm gần 100% dân số nhưng ruộng đất của họ có không đầy ………. ha và phần lớn thuộc đất xấu. Trong nông dân thì 2/3 là bần cố nông, sống cuộc đời hết sức cơ cực.

Do đất xấu, phương tiện canh tác như trâu bò, công cụ lại thiếu nên việc sản xuất của nông dân nhất là lớp nông dân nghèo gặp không ít khó khăn. Trâu bò phần lớn phải nuôi rẻ của địa chủ, phú nông. Toàn xã đến năm 1945 cũng chỉ có khoảng…........ con trâu, bò thuộc các gia đình giàu có. Người nuôi rẻ đến vụ phải dành cho chủ cày bừa trước, khi trở lại sản xuất trên mảnh đất của mình thì đã quá thời vụ. Có làm thì thu hoạch cũng chẳng đáng là bao. Bởi vậy nhiều bần cố nông đến mùa phải đi làmthuê ở khắp nơi trong tỉnh. Quân bình trong xã ruộng đất của nông dân nghèo trước cách mạng tháng Tám năm 1945, không đầy một sào Trung Bộ (tức 500m2) mỗi người dân. Tuy nhiên không phải như vậy là ai cũng có ruộng mà nhiều hộ không một tấc đất cắm dùi, phải kiếm sống bằng các nghề làm thuê, mướn quanh năm hoặc lĩnh canh nộp tô nặng nề cho địa chủ. Do vậy lớp lớp nhân dân lao động xã nhà vẫn phải sống trong cái vùng luẩn quẩn của chế độ nô lệ.

Kiếm không đủ ăn, nhân dân ta còn một nỗi thống khổ thường niên là phải đóng sưu thuế nặng nề, hà khắc. Ngoài thuế ruộng đất, thuế hàng hóa, thuế sản vật thì thuế thân (thường gọi là sưu) là một thứ thuế cực kỳ vô nhân đạo đánh vào đầu người nam giới từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt già trẻ, giàu nghèo. Đáng sợ nữa là sưu thuế mỗi năm mỗi tăng dần. Một học giả người Pháp đã viết “Trên chiếc lưng cao su của người An Nam, Nhà nước bảo hộ tha hồ kéo dãn mức thuế”.

Mỗi suất sưu trong thời kỳ thực dân Pháp khai thác thuộc địaỷtước năm 1918 phải đóng 2, 3 đồng bạc Đông Dương (mỗi đồng bạc lúc này tương đương 1 tạ thóc), đến sau đại chiến thế giới thứ 1, từ 1918 trở đi trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của địch, mỗi suất sưu phải đóng 2,5 đồng. Năm 1924 nhân dịp “tứ tuần đại khánh” của vua bù nhìn Khải Định, sưu thuế tăng 30% và từ sau 1930 mỗi suất sưu phải đóng 3,2 đồng. Đấy là chưa kể tiền bút chỉ cho Lý Hương làm việc cũng mất vài hào nữa với mỗi suất sưu.

Trong làng xã nhiều gia đình không có tiền đóng sưu thuế bị đánh đập tàn nhẫn, phải cầm cố ruộng đất hoặc bán tài sản ít ỏi của mình, thậm chí có gia đình phải bán con một cách đau xót. Nhiều người phải bỏ làng phiêu bạt khắp nơi đến nay không còn tung tích.

Ngoài ra trong vòng hơn 3 thập niên đầu thế kỷ XX (từ 1914 đến 1945), hai cuộc đại chiến thế giới bùng nổ, giữa các phe phái đế quốc đã xô đẩy nhân dân ta vào con đường hết sức cùng cực.

Với cuộc đại chiến lần thứ nhất (1914 – 1918), dưới chiêu bài “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc” của chính quyền thuộc địa tung ra, nhiều tài sản của nhân dân phải đem nộp cho địch và toàn xã lúc này đã có trên 20 thanh niên bị bắt đi làm lính thợ, lính chiến.

Cuộc khủng hoảng về kinh tế trong những năm 1929 – 1933, các nước đế quốc đã làm cho mâu thuẫn xã hội càng thêm sâu sắc, nhưng cũng thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng lên cao. Để đối phó với phong trào cách mạng của nhân dân, tư bản độc quyền ở một số nước thủ tiêu các quyền dân chủ tư sản, thi hành chính sách độc tài phát xít, dáo diết thực hiện chiến tranh. Thực dân Pháp không những huy động nhân dân chính quốc mà còn bắt nhân dân các nước thuộc địa phục vụ cho cuộc chiến tranh của chúng. Nhân dân huyện ta nói chung, nhân dân Hoằng Lưu nói riêng cũng phải chịu cảnh bắt bớ, có trên 20 người dời bỏ quê hương, người thân đi làm bia đỡ đạn cho chúng vào các năm 1939, 1940 như: ông Nhân, ông Tập -  Phục Lễ; ông Cốc, ông Quý, ông Hai, ông Tỵ  - Nghĩa Lập.

Trong đại chiến thế giới lần thứ 2 (1939 – 1945), hết kẻ thù này đến kẻ thù khác đã dồn nén nhân dân ta vào cảnh thảm thương “một cổ hai tròng” dưới hai tầng áp bức Nhật - Pháp. Năm 1940 Nhật nhảy vào Đông Dương. Thực dân Pháp đầu hàng Nhật càng ra sức vơ vét của cải ở thuộc địa phòng khi phải cuốn gói ra đi. Phát xít Nhật thả sức hoành hành bắt nhân dân ta phải nhổ lúa trồng đay bông lạc, phục vụ nhu cầu chiến tranh của chúng. Hàng trăm trai tráng trong làng xã bị bắt đi phu nạo vét sông Hói Đào (Nga Sơn) đào kênh Hồ Thượng (Tĩnh Gia), làm sân bay Lai Thành (Quảng Xương). Đói rét, bệnh tật, đòn roi đã cướp đi nhiều sinh mạng của xã. Đấy là chưa kể hàng chục thanh niên phải đi lính cho Pháp trong cuộc đại chiến lần thứ 2.

Cuối năm 1944, lụt lớn xảy ra ở Bắc Bộ. Đê sông Hồng bị vỡ, nước tràn ngập khắp các tỉnh đồng bằng nơi đây. Nạn lụt ở Thanh Hóa cũng trầm trọng qua vụ vỡ đê sông Mã ở Phù Quang (Hoằng Quang), sông Chu ở Thiệu Hóa. Nạn lụt đã cuốn trôi hết mùa màng trong khi kẻ thù đã vơ vét hết thóc gạo, tích trữ cho chiến tranh trước đó. Một nạn đói rùng rợn đổ ập lên khắp Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cướp đi hơn 2 triệu sinh mạng đồng bào. Riêng xã nhà, trong nạn đói này cũng đã có hàng trăm người chết, khặp nơi đâu đâu cũng có người chết, nơi đầu đường, xó chợ một cách thảm thương. Hàng chục gia đình sống trong đau khổ, chết chóc, chỉ còn 1 – 2 người. Đặc biệt co gia đình chết sạch trong nạn đói lịch sử đầu năm 1945 (xã có không).

3. Về văn hoá xã hội.

Đi đôi với chính sách kìm hãm về kinh tế, phản động về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân.

Dưới thời Pháp thuộc việc học chữ Quốc Ngữ được đặt ra thay thế dần chữ Hán (còn gọi là chữ nho). Buổi đầu việc “vứt bút lông đi, dắt bút chì” đã gây không ít phản cảm trong giới trí thức nho học. Nhưng rồi tiện ích của chữ Quốc Ngữ đã có sức thuyết phục trong điều kiện lịch sử mới. Song được đi học cũng không phải dễ dàng bởi chính sách ngu dân của nhà nước bảo hộ đã ghi: “chỉ cung cấp cho nhân dân Việt Nam một sự giáo dục nhỏ giọt, phát triển theo chiều nằm chứ không theo chiều đứng”[1].

Toàn huyện Hoằng Hóa đến năm 1920 tức sau năm cuối cùng của chế độ thi cử bằng chữ Hán chấm dứt (1919) mới có một trường sơ học gọi là trường Kiêm Bị vừa dạy chữ Quốc Ngữ, vừa dạy chữ Hán và chữ Pháp đặt ở huyện lỵ Bút Sơn. Trường gồm ba lớp (5 – 4 – 3 tương đương với các lớp 1 – 2 – 3 trường tiểu học ngày nay). Ba năm sau vào niên khóa 1923 – 1924, một số tổng ở Hoằng Hóa có thêm trường Kiêm Bị thì trường huyện được nâng cấp thành trường tiểu học gọi là trường tiểu học Pháp Việt gồm 6 lớp: một lớp 5, một lớp 4, một lớp 3, hai lớp nhì đệ nhất, đệ nhị và một lớp nhất tương đương với các lớp 1 – 2 – 3 – 4 – 5 hiện nay.

Trong 8 tổng của huyện Hoằng Hóa lúc này mới có 4 tổng có trường Kiêm bị gồm trường Hoằng Bột (tổng Hành Vĩ), Trường Phú Khê (tổng Dương Thủy), trường Kim Đính (tổng Ngọc Chuế) và Trường Quan Nội (tổng Từ Quang). .

Tính đến năm 1930, tổng Bái Trạch có 27 làng nhưng chỉ có 2 trường học, trong đó mỗi trường chỉ có 2 phòng học với số học sinh khoảng 90 người, nhưng phần lớn trong số đó là con em nhà giàu, gia đình có chức có quyền.

Theo thống kê xã nhà trước cách mạng số biết chữ Quốc Ngữ có khoảng …. người, chiếm tỷ lệ …... dân số lúc này.

Trong điều kiện việc học không được phát triển mạnh thì mọi mặt đời sống kéo theo đó vẫn luôn trong vòng lạc hậu. Nhà nước bảo hộ hạn chế học hành, còn việc khám chữa bệnh cũng không được quan tâm đúng mức.

Cả huyện Hoằng Hóa trước cách mạng tháng Tám năm 1945 vẻn vẹn chỉ có một nhà thương với 10 giường bệnh đặt ở Bút Sơn do một y tá người Việt phụ trách. Người dân ốm đau, bệnh tật chủ yếu phải dùng thuốc nam, trong khi có những bệnh thuốc nam không phát huy kịp tác dụng. Nhiều bệnh cấp tính và khi có dịch sảy ra, nhân dân đành phải bó tay phó thác sinh mệnh cho số phận.

Trái với việc hạn chế học hành, chữa bệnh thì các hủ tục nặng nề, các hình thức mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội lại được thả lỏng.

Trong làng xã biết bao hủ tục quy định như vọng phe giáp, vọng làng trai, làng trùm, làng văn, làng võ, vọng lão, vọng nhiêu đều phải đóng góp hoặc làm cỗ để thết đãi thường gọi là cỗ khao làng. Không có tiền thì phải vay mượn cầm cố nơi này nơi khác để có lễ mọn đem ra đình trung. Tục lệ này nói là do làng đặt ra nhưng thực chất là do tầng lớp chức sắc điều khiển.

Việc lễ hội là hợp lòng dân, thờ cúng là tri ân tổ tiên thuộc truyền thống cao đẹp của dân tộc. Nhưng có những luật lệ trong lễ hội đặt ra đã vượt quá sự chịu đựng về kinh tế của nhân dân lao động. Tế lễ kéo theo sự tranh giành thứ bậc “ăn trên ngồi trước” với “miếng giữa làng bằng sàng trong bếp”. Rồi những điều tiếng thị phi diễn ra theo đó là kiện tụng, tạo cơ hội “đục nước béo cò”, mạnh ai nấy làm, yêu ai người ấy được, dẫn đến sự sa sút về mối đoàn kết nông thôn vốn dĩ là truyền thống tốt đẹp của làng xã. Tục lệ phong kiến lạc hậu ấy được duy trì, dung túng, tiêu tốn không ít tiền của của nhân dân, nhiều người không có tiền đóng góp việc làng, đành phải cắp nón ra đi.

Bên cạnh đó các hoạt động mê tín dị đoan diễn ra thường xuyên mà không được ngăn chặn kịp thời càng làm cho đời sống nhân dân đã khổ, càng lún sâu vào vòng luẩn quẩn khổ đau không lối thoát. Nhiều tệ nạn xã hội không được giáo dục phòng ngừa, dẫn đến có người “khuynh gia bại sản”, nghèo đói kéo dài.

Nhà nước bảo hộ nói là khai hóa văn minh, nhưng trên thực thế hàng trăm năm sống trong chế độ phong kiến lạc hậu thì đến khi có Chủ nghĩa Tư bản thâm nhập, vẫn là lạc hậu và hơn thế nữa còn bị bần cùng hóa tột độ.

Tính đến năm 1945 toàn xã cũng có chưa đầy 100 nóc nhà ngói. Song đó là tài sản của nhà giàu, còn lại hầu hết là nhà tranh vách đất, phương tiện sinh hoạt thiếu thốn mọi bề. Đại bộ phận nhân dân ăn đói mặc rách, đêm ngủ không chăn màn, thậm chí có gia đình không có chiếu đắp. Hầu hết nhân dân nấu ăn bằng nồi đất, dung bát đĩa bằng sành nung, uống nước bằng gáo dừa, thắp đèn bằng dầu trẩu, dầu gác.

Hậu quả gần một thế kỷ đô hộ của chủ nghĩa thực dân phong kiến đã đưa đến kết cục bi thảm nạn đói năm 1945 còn hằn sâu trong lịch sử. Bức tranh chính trị, kinh tế, xã hội hiện lên dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến thật đau thương mờ mịt.

Song áp bức bóc lột, khổ đau, nghèo đói không làm nhụt ý chí, khát vọng đấu tranh cho độc lập tự do, cho công bằng lẽ phải, cho ấm no hạnh phúc của nhân dân ta. Khát vọng ấy chứa chất trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là lớp công nhân và nông dân. Mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp lúc âm ỉ, lúc bùng lên quyết liệt giữa người bị trị và bè lũ thống trị thực dân phong kiến phản động.

Từ truyền thống quê hương, với ý chí tự lực tự cường, nhân dân xã nhà trong quá trình lịch sử đã nhận rõ bản chất phản động kẻ thù, lớp lớp các thế hệ lại đứng lên biểu thị lòng yêu nước và cách mạng của mình.

II. PHONG TRÀO CÁCH MẠNG.

1. Trước năm 1930.

Từ  đầu thế kỷ XX vào những năm diễn ra phong trào Duy Tân (1905), phong trào chống thuế Trung Kỳ (1908), phong trào Việt Nam Quang phục hội (1913) và nhất là phong trào đòi ân xá nhà yêu nước Phan Bội Châu (1925), truy điệu Phan Chu Trinh (1926), tầng lớp thanh niên tiến bộ của xã được ảnh hưởng tư tưởng yêu nước giải phóng dân tộc, nhiều người đã hăm hở bước vào con đường cách mạng mới trong việc tham gia các cuộc vận động yêu nước trên đây. Tại buổi lễ truy điệu cụ Phân Chu Trinh tại Trường Tiểu học Pháp Việt Hà Đồ - Tổng Bái Trạch đã có trên 100 thanh niên, học sinh tham gia. Tại đây bài điếu cụ do ông Nguyễn Thức Cung viết và đọc đã được lưu truyền góp phần khơi dậy lòng yếu nước của nhân dân, đến nay nhiều người còn nhắc lại có đoạn:

 “Hai mốt năm yêu nước yêu dân, nọ sợ đường sinh nhai vất vả

Ngoài bốn bể thử gan thử trí, quản gì bước thế lộ chông gai

Nay cũng tưởng: vận nước đã qua, cơ trời sắp chuyển

Nào có ngờ: quân bảo hộ trọng phường gian ác, khách giang hồ thọ với giang san

Vậy nên: gươm đạo đức, giáo cương thường, diệt cho hết phường gian nịnh tham ô.

Lời diễn giải, bút điều trần, vạch cho ra lẽ tự do bình đẳng”

Song lịch sử Việt Nam một lần nữa lại chứng minh rằng, nếu ngọn cờ Cần Vương theo ý thức hệ phong kiến đã lỗi thời thì ngọn cờ cứu nước theo ý thức hệ tư sản cũng không khỏi bế tắc.

Cuối năm 1924 đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Trung Quốc, nhanh chóng tập hợp những người Việt Nam yêu nước, mở các lớp huấn luyện chính trị, lập ra tổ chức “Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”, ra báo Thanh niên. Đồng chí Lê Hữu Lập là người đầu tiên dự lớp huấn luyện và tham gia tổ chức và cũng là người đầu tiên của Việt Nam vinh dự là hội viên của tổ chức do Người sáng lập.

Khi đồng chí Lê Hữu Lập về Thanh Hóa hoạt động cũng là lúc học thuyết Mác – Lê Nin và tư tưởng cách mạng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc được truyền bá rộng khắp trong tỉnh. Đồng chí Lê Hữu Lập tích cực vận động những thanh niên tiến bộ tiếp tục sang Trung Quốc để học. Tại huyện Hoằng Hóa, tiêu biểu cho lớp thanh niên tiến bộ lúc bấy giờ là đồng chí Lê Mạnh Trinh, đồng chí được tổ chức chọn đưa sang Trung Quốc dự lớp huấn luyện cách mạng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc mở năm 1926. Cũng trong thời gian này phong trào yêu nước ở huyện ta diễn ra sôi nổi. Năm 1927 hai tổ chức tiền thân cách mạng ở tỉnh ta ra đời đó là: Tỉnh hội Việt Nam, thanh niên cách mạng đồng chí hội và Tân việt cách mạng đảng.

Từ sự ra đời của hai tổ chức cách mạng tiền thân của tỉnh, đồng chí Lê Mạnh Trinh sau khi về nước cùng với đồng chí Lê Tất Đắc, phùng Văn Diên, Lê Việt Chánh tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa vô sản và tư tưởng cách mạng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Từ đó đã tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và tân việt huyên nhà như: Thanh niên cách mạng đồng chí hội Cự Đà  -Hoằng Minh, cơ sở Tân Việt ở Phú Khê - Hoằng Phú, Hội Triều - Hoằng Phong phần lớn đảng viên là thanh niên học sinh, giáo viên và các viên chức nhỏ tiến bộ khác.

Năm 1929 hai đảng Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và Tân Việt tỉnh  phát triển xuống đến huyện thì tháp nhập với nhau và tiếp tục nêu cao vai trò tích cực của mình trong việc tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào các trường lớp nhân dân đào tạo đội ngũ cán bộ đảng viên, hăng hái nhiệt tình cách mạng làm cơ sở cho sự ra đời của Đảng Cộng sản sau này.

Năm 1929, thực dân Pháp phát hiện các tổ chức tiền thân của đảng ở tỉnh ta. Cuộc đánh phá truy lùng của kẻ thù ngày càng ráo riết, các chi bộ thanh niên cách mạng đồng chí hội và tân việt huyện nhà cũng bị tan vỡ, một số đảng viên bị bắt giam, số còn lại giữ vững được phẩm chất cách mạng, đi sâu xúc tiến công việc thành lập Đảng cộng sản trên mảnh đất quê hương Thanh Hóa.

2. Từ năm 1930 đến năm 1945.

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng Sản chỉ đạo, sáng lập. Đảng đã đề ra cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta theo đường lối chủ nghĩa Mác Lênin.

Từ đây, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng, trên cơ sở con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta mạnh mẽ vững bước vào thời kỳ cách mạng mới – cách mạng vô sản, chấm dứt tình trạng khủng hoảng trong đường lối chính trị cứu nước ở những năm đầu thế kỷ XX.

Đảng Cộng sản Việt Nam, bộ phận tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, bước lên vũ đài chính trị với vai trò là người lãnh đạo duy nhất, trung thành tuyệt đối của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam, từng bước đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Sau khi thành lập Đảng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, nhạy bén của ban chấp hành Trung ương Đảng, các Đảng bộ cơ sở các địa phương kịp thời được xây dựng.

Tại Thanh Hóa, ngày 29 tháng 7 năm 1930, chi bộ Cộng sản Việt Nam Thanh Hóa được tổ chức. Tiếp theo tháng 9 năm 1930, trên cơ sở VNTNCMĐC hội, chi bộ Cộng sản Việt Nam Hoằng Hóa được thành lập ở Cự Đà gồm 3 đảng viên gồm : Đ/c Lê Viết phồn, Trương Khắc Cần, Trương Khắc Khoan do đồng chí Lê Viết Phồn làm Bí thư.

Song chi bộ Cự Đà vừa mới ra đời, một tháng sau, trong khi đang đi chuyển tài liệu cách mạng về hoạt động, chưa kịp phát triển đảng viên thì đã bị kẻ thù phát hiện đánh phá. Các đảng viên bị bắt, tù đày. Tuy nhiên sự kiện thành lập chi bộ Đảng huyện, đường lối cách mạng vô sản đã đưa lại ảnh hưởng tích cực trong quần chúng.

Tại xã Hoằng Lưu những ảnh hưởng phong trào cách mạng vô sản của Đảng cộng sản Việt Nam đã có điều kiện lan tỏa nhanh chóng.

Trước hết, cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931), đây là bước tập dượt đầu tiên thực thi khẩu hiệu đánh đổ đế quốc, phong kiến, xây dựng chính quyền công nông của Đảng. Tại xã nhà, do thuộc vùng phụ cận nhà máy Diêm Hàm Rồng có đường giao thông sắt bộ đi qua nên khi nổ ra cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh thì các tầng lớp nhân dân trong xã đã kịp thời được cổ vũ.

Trên cơ sở đó, nhiều công nhân thời vụ địa phương đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh đình công ở nhà máy Diêm - Hàm Rồng do đồng chí Nguyễn Văn Hoài (Yên Vực nay thuộc thị trấn Tào Xuyên) chỉ đạo. Đồng thời một số đã được tổ chức vào phong trào “công hội đỏ”, “phụ nữ giải phóng”. Năm 1932, một cuộc lùng sục bắt rượu do bọn Tây đoan đóng ở Hàm Rồng tổ chức đến làng Quan Nội đã bị quần chúng dùng gậy gộc đuổi đánh.

Năm 1936 – 1939, trong phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo thì nhiều tầng lớp nhân dân đã được tập hợp qua tổ chức Hội đọc sách báo công khai của Đảng được xây dựng ở ….......

Hội đã vận động có kết quả các phong trào đòi miễn giảm sưu thuế, đòi “khất thuế lưu đông” (tức thuế thu vào mùa hạ khất tới mùa đông); đòi tự do dân chủ, nam nữ bình quyền, đòi chia lại công điền, công thổ, công bằng trong nhân dân... Nổi bật là phong trào truyền bá chữ Quốc Ngữ và lập Hội tương tế ái hữu ở các làng, xóm. Thời kỳ này, ở mỗi làng đều có một hội giúp đỡ tương trợ nhau trong đời sống hàng ngày như Hội cày cấy, Hội đánh tranh lợp nhà, Hội hiếu hỷ, hội học sinh, Hội đá bóng, Hội truyền bá Quốc Ngữ, Hội tiểu thương. Các hội này ra đời ở thời kỳ Mặt trận dân chủ đã góp phần nhanh chóng vận động quần chúng tiến vào con đường đấu tranh từ kinh tế đến chính trị của Đảng và sau này kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang làm nên cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công rực rỡ.

Có những cuộc đấu tranh đã thu hút hàng trăm quần chúng trong xã tham gia như phong trào lấy chữ ký gửi Viện dân biểu Trung Kỳ hủy bỏ luật thuế thân mới đang được chuẩn bị gia tăng. Phong trào đã góp phần làm thất bại âm mưu của địch. Dự án luật thuế mới này đã bị bác bỏ tại Viện dân biểu Trung Kỳ ngày 12 tháng 9 năm 1938 [2].

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Để đối phó với chiến tranh, thực dân Pháp tuyên bố giải tán các tổ chức chính trị ở Đông Dương, tiến hành chính sách đàn áp dã man gay gắt các cơ sở phong trào Mặt trận dân chủ. Các tổ chức quần chúng bị cấm hoạt động. Nhiều thành quả vừa mới giành được trong cuộc vận động dân sinh dân chủ ở thời kỳ 1936 – 1939 bị kẻ thù tước đoạt.

Trước tình hình ấy, Đảng ta kịp thời rút vào hoạt động bí mật và đề ra chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam sang giai đoạn mới, giai đoạn giành chính quyền về tay nhân dân.

Vào thời gian trên, mặc dù bị địch lùng sục, đàn áp nhưng nhiều quần chúng tích cực của xã nhà đã giữ vững được niềm tin vào phong trào cách mạng, đón thời cơ hoạt động.

Đồng chí …................ đã trở thành nhân cốt tuyên truyền công cuộc vận động vận động giải phóng dân tộc của xã.

Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng dâng nước ta cho Nhật. Trong lúc chính quyền mới của Nhật chưa được dựng lên, chính quyền thực dân Pháp là công cụ tay sai tôi tớ của phát xít Nhật. Chúng thi hành chính sách cướp bóc tài sản của nhân dân ta để phục vụ chiến tranh đế quốc của chúng. Đảng đã kịp thời lãnh đạo nhân dân ta đứng về phe đồng minh chống phát xít.

Tháng 5 năm 1941 dưới sự lãnh đạo của ban chấp hành trung ương Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước chỉ đạo, Mặt trận Việt Minh được thành lập nêu cao chủ trương vận động giải phóng dân tộc, kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh đuổi Pháp - Nhật và bè lũ tay sai giành chính quyền về tay nhân dân.

Quán triệt nghị quyết thành lập mặt trận Việt Minh của Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy do đồng chí Tố Hữu làm Bí thư, tháng 3 năm 1943, ban vận động Việt Minh Hoằng Hóa ra đời sau đổi là Mặt trận Việt Minh huyện do đồng chí Nguyễn Khắc Cầm (tức Nguyễn Chiến – Hoằng Châu) làm trưởng ban. Tiếp theo, tháng 6 năm 1944, chi bộ Đảng huyện được tái thành lập tại thôn Đằng Trung – Hoằng đạo sau 14 năm gián đoạn (1930 – 1944). Chi bộ gồm 3 đảng viên là: Đ/c Nguyễn Khắc Cầm (tức Nguyễn Chiến), Nguyễn Huy Soạn, Lê Khắc Duy do đồng chí Nguyễn Khắc Cầm làm Bí thư.

Tại xã nhà, cũng như nhiều nơi trong huyện, đất đai có đồng lúa, đồng màu, lại là vùng có nhiều nhân công, từ khi Nhật vào Đông Dương, chiếm đóng Thanh Hóa, chúng liền tổ chức việc khai thác nguồn tài nguyên và sức người của huyện ta cho chiến tranh đế quốc. Phát xít Nhật đã bắt nhân dân ta phải nhổ lúa và hoa màu để trồng đay, bông, lạc cung cấp nguyên liệu cho chiến tranh đồng thời tăng cường bắt phu, bắt lính phục vụ các công trình quân sự của chúng.

Được sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, thông qua ban Việt Minh huyện, phong trào đấu tranh chống bắt phu bắt lính, chống thu thóc thu bông, chống nhổ lúa trồng đay, bông diễn ra liên tục ở nhiều nơi đã thu hút đông đảo nông dân xã nhà tham gia vào cuộc đấu tranh chung của huyện. Trên cơ sở đó nhiều quần chúng được giác ngộ Việt Minh.

Bên cạnh phong trào đấu tranh chống đi phu. Hàng trăm đồng bào tổng Bái Trạch đã tổ chức cuộc vây bắt cai tổng đại phương đem ra cảnh cáo trước nhân dân về tội làm tay sai cho giặc buộc cai tổng phải cuối đầu nhận tội.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945 phát xít Nhật làm cuộc đảo chính Pháp. Chớp thời cơ mới, ngay sau đó, ngày 12 tháng 3 năm 1945, ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản chỉ thị lịch sử vạch rõ cuộc đảo chính của Nhật đã biểu hiện một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc trong hàng ngũ địch làm cho “những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi”. Chỉ thị nêu khẩn trương đem khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật – Pháp” và “phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”. Đồng thời chỉ thị cũng vạch rõ “sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện” [3].

Đáng chú ý lúc này là nạn đói đang diễn ra rùng rợn. Ở khắp nơi trong xã ngày nào cũng có người chết đói. Mặt trận Việt Minh vừa phải làm nhiệm vụ cứu nước vừa phải cứu đói cho nhân dân.

Thực hiện chỉ thị “Đòi ăn” của Tỉnh ủy Thanh Hóa, phong trào phá kho thóc của phát xít Nhật được dấy lên rầm rộ trong huyện. Những ngày cuối tháng 3 năm 1945 các tầng lớp nhân dân xã nhà dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, đã lần lượt xuống đường phá kho thóc của Nhật ở Đằng Trung (Hoằng Đạo), phân phát cho dân nghèo. Đồng thời việc cứu tế cũng được thực hiện trong nhân dân qua việc vận động các nhà giàu quyên góp ủng hộ cứu đói. Phong trào đã có tác dụng thiết thực giải phóng nhanh nạn đói trầm trọng ra khỏi đời sống của nhiều quần chúng trong xã, càng làm dấy lên tinh thần sôi nổi, cách mạng trong nhân dân

Thế là từ đây, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy do đồng chí Đinh Trương Lân (Hậu Lộc), Tỉnh ủy viên được phân công phụ trách khu vực Hoằng Hóa, Quảng Xương, Hậu Lộc, chi bộ Đảng và Việt Minh huyện đã kịp thời lãnh đạo nhân dân trong huyện bước vào nhiệm vụ lịch sử tiến hành công cuộc “sửa soạn khởi nghĩa” một cách tự tin, sáng tạo.

Tại xã nhà, tháng 5/1945 ban chấp hành Việt Minh các làng được thành lập. Nhiều quần chúng tiến bộ như các ông …....... đã được giác ngộ tham gia công tác tuyên truyền Việt Minh, thành lập các hội cứu quốc địa phương. Tính vào tháng 8 năm 1945, trước ngày tổng khởi nghĩa, toàn xã đã có ….......... hội viên cứu quốc thuộc các đoàn thể như Thanh niên cứu quốc do ông …........... làm đội trưởng, Phụ nữ cứu quốc do bà …................ làm hội trưởng, Nông dân cứu quốc do ông …....................... làm hội trưởng. Trên cơ sở các đoàn thể cứu quốc ra đời, đội tự vệ cứu quốc được tổ chức tăng cường luyện tập quân sự, rèn sắm vũ khí thô sơ, chuẩn bị tham gia khởi nghĩa giành chính quyền.

Các ban Việt Minh ở các làng trong xã đã làm chủ được tình hình. Hầu hết các lý trưởng các làng đã đem nộp sổ sách, đồng triện (con dấu) cho Việt Minh, không ai phản ứng gì.

Phong trào luyện tập vũ trang trong tự vệ cứu quốc được tiến hành ở làng xóm và đã tổ chức tham gia bảo vệ các cuộc mít tinh “diễn thuyết xung phong” (tức diễn thuyết có vũ trang) do Việt Minh huyện tổ chức kêu gọi các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, ủng hộ, gia nhập Việt Minh tạo thành mặt trận rộng lớn đoàn kết dân tộc đánh đuổi thù chung. Trước tình hình đó kẻ địch điên cuồng, lồng lộn. Chúng đã tổ chức cuộc bí mật đánh vào Việt Minh Hoằng Hoá.

Ngày 24 tháng 7 năm 1945, cuộc đấu tranh chống địch khủng bố diễn ra ở Đằng Trung (Hoằng Đạo). Trước đó, do nắm được tình hình địch vào tối ngày 23/7/1945, được tri bộ Đảng huyện và ban Việt Minh huyện chỉ đạo, lực lượng tự vệ cứu quốc các làng trong xã đã được tổ chức các chốt giữ tại ….......................... nhằm đánh úp cuộc hành quân của địch đi đàn áp phong trào. Ở làng …........... do ông …................. phụ trách. …............. do ông …................... phụ trách; …............... do ông …............... phụ trách. Các tổ chiến đấu trên đặt dưới sự chỉ huy của đồng chí …................. . .

Cuộc chiến đấu của các đội tự vệ cứu quốc ở nơi đây trong ngày 24/7/1945 đã diễn ra quyết liệt và thắng lợi. Tri phủ Hoằng Hóa bị bắt sống ở Đằng Trung vào trưa ngày 24/7. Thừa thắng xông lên cuộc khởi nghĩa giành chính quyền huyện do Việt Minh và chi bộ Đảng huyện lãnh đạo dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ đã được triển khai nhanh chóng. Trong ngày này đội tự vệ cứu quốc xã nhà được tổ chức tại..................do …............ chỉ huy, phối hợp với nhiều đơn vị tự vệ trong huyện tham gia bao vây giải phóng huyện đường về tay nhân dân dưới sự lãnh đạo của Việt Minh huyện.

Ngày 27 tháng 7 năm 1945, các cuộc mít tinh ở làng tổng được triển khai biểu dương lực lượng cách mạng, tuần hành thị uy, giải tán chính quyền cơ sở, tịch thu ấn tín, kêu gọi hàng ngũ chức sắc quay về với nhân dân. Nhân dân trong xã đã tham gia mít tinh tại …..............., tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, ra mắt Ủy ban vận động giải phóng dân tộc các làng tổng.

Đêm ngày 18 tháng 8 năm 1945, thi hành lệnh tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, và của Tỉnh ủy, dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng huyện, tại …................... nhanh chóng tập hợp lực lượng tham gia tổng khởi nghĩa. Đêm hôm ấy gần …............... hội viên Việt Minh mà nòng cốt là tự vệ cứu quốc.......................................................................

Ngoài ra  trong tự vệ cứu quốc xã còn tổ chức một bộ phận làm nhiệm vụ giám sát, khống chế những phần tử ngoan cố, tình nghi, bọn lưu manh côn đồ, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân.

Công cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi. Sáng ngày 19 tháng 8 năm 1945, các tầng lớp nhân dân trong xã có các đội tự vệ cứu quốc làm nòng cốt cùng các tầng lớp nhân dân trong tổng với đội ngũ chỉnh tề, trang bị vũ khí thô sơ, tấp nập xuống đường, tuần hành, biểu dương lực lượng và dự cuộc mít tinh lớn tại chợ huyện chào mừng cách mạng thắng lợi, chào mừng Ủy ban lâm thời nhân dân cách mạng tổng do ông ….................... được Việt Minh huyện chỉ định làm Chủ tịch, ra mắt trước nhân dân.

Tiếp theo ngày 20 tháng 8 năm 1945, gần 100 tự vệ xã có vũ trang được biên chế thành đội ngũ, dương cao cờ đỏ sao vàng, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, băng khẩu hiệu tiến về dự cuộc mít tinh lớn tại huyện lỵ Bút Sơn chào mừng ủy ban lâm thời nhân dân cách mạng huyện do ông Lê Quang Trường (Hoằng Tiến) làm chủ tịch ra mắt trước đông đảo đồng bào.

Và sáng sớm ngày 23/8/1945, các đơn vị nòng cốt trong các hội cứu quốc của xã cùng tự vệ cứu quốc được chọn lọc tiếp tục tổ chức về dự cuộc mít tinh lớn của tỉnh chào mừng cách mạng tháng 8/1945 thành công trong sư ra mắt của vị chủ tịch UBND lâm thời nhân dân cách mạng tỉnh thanh hoá Lê Tất Đắc.

Vậy là, sau 15 năm (1930 - 1945) đấu tranh cách mạng quyết liệt, đúng đăn, sáng tạo của Đảng, lúc bí mật, lúc công khai, bán công khai, các tầng lớp nhân dân xã nhà được sự giáo dục giác ngộ cách mạng đã vùng đứng lên cùng một lúc với phong trào chung của huyện, của tỉnh, của cả nước, góp phần tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công rực rỡ, chấm dứt cuộc đời nô lệ lầm than dưới nhiều tầng áp bức bóc lột của thực dân, phát xít, phong kiến, tạo nên dấu ấn truyền thống đẹp đẽ của quê hương, vững bước tiến vào thời kỳ xây dựng chính quyền mới, chính quyền thực sự của dân, do dân làm chủ, mở ra trang sử mới hào hùng của quê hương Hoằng Lưu trong thời đại Hồ Chí Minh vẻ vang, oanh liệt.

Chương III. XÂY DỰNG, CỦNG CỐ, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ NHÂN DÂN VÀ THAM GIA KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC 1945 – 1954.

1. Xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân (1945-1946).

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công rực rỡ đã mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH trên đất nước ta. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nay là nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời với bản “Tuyên ngôn độc lập” hùng tráng của dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình thủ đô Hà Nội. Sau khi chính phủ lâm thời được thành lập ngày 3/9/1945, các uỷ ban lâm thời nhân dân cách mạng, các cơ sở được xây dựng trong khi chưa tổ chức kịp bầu cử quốc hội. Tháng 10 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các “Ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện và làng”. Bức thư có đoạn:

“Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu chúng ta phải theo đúng phương châm. Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân nghĩa là làm việc chung cho dân chứ không phải là đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.

Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm.

Việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh.

Chúng ta phải yêu dân thì dân mới yêu ta, kính ta” 1

 
 
 


1) Hồ Chí Minh: “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” NXB Sự Thật, Hà Nội, 1976, Trang 60

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 1 năm 1946, các đơn vị hành chính làng tổng vẫn giữ nguyên, nhưng thay thế bộ máy cũ là các Uỷ ban lâm thời nhân dân cách mạng  (UBLTNDCM) làng tổng.

Ở Tổng Bái Trạch, Ủy ban lâm thời nhân dân cách mạng tổng do ông …….. (…….) làm Chủ tịch, ông ……………. phụ trách quân sự. Mặt trận Việt Minh tổng cũng được củng cố, phát triển do ông ……………. làm chủ nhiệm.

Tại các làng có Ủy ban lâm thời NDCM điều khiển mọi công việc ở cơ sở lần lượt do các ông phụ trách:

Làng Phượng Ngô do ông ……………….. làm Chủ tịch UBLT NDCM làng.

Làng Nghĩa Lập do ông …………………làm Chủ tịch UBLT NDCM làng.

Làng Phú Lễ do ông ……………………….Chủ tịch ủy ban lâm thời NDCM làng.

Làng Phú Lễ do ông ……………………….Chủ tịch ủy ban lâm thời NDCM làng.

Song, cách mạng vừa thành công, nhà nước VN DCCH vừa được khai sinh chưa đầy một tháng thì giặc ngoài, thù trong đã đe dọa nền độc lập dân tộc.

Ở miền Nam, thực dân Pháp dựa vào thế lực quân Anh thuộc phe đồng minh chống phát xít, trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945 chúng gây hấn ở Nam bộ rồi mở rộng cuộc đánh chiếm ra nhiều vùng.

Ở miền Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch núp dưới danh nghĩa đồng minh vào giải giáp phát xít Nhật, thả sức hoành hành, quấy nhiễu nhân dân ta và ngấm ngầm phá hoại cách mạng nước ta.

Các thế lực thù địch bên trong, dựa vào bọn quan thầy của chúng, tổ chức ra nhiều đảng phái phản động thân Pháp, thân Nhật, thân Tưởng, hòng cướp lại chính quyền từ tay nhân dân ta vừa mới giành được. Nền độc lập dân tộc nước ta, hơn bao giờ hết, đứng trước nguy cơ “ngàn cân treo sợi tóc”

Bên cạnh đó, nạn đói, nạn mù chữ và nền tài chính quốc gia trống rỗng cũng là mối đe dọa lớn đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước

Trước những hiểm họa trên, việc giữ vững chính quyền cách mạng vừa mới giành được là một yêu cầu hết sức cấp thiết được đặt lên vị trí hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta.

Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy lâm thời được thành lập vào tháng 9 năm 1945 và ban Việt Minh huyện, UBLTNDCM làng tổng sau khi ra đời đã khẩn trương thi hành sáu nhiệm vụ cấp bách lúc này của chính phủ lâm thời do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đề ra trong phiên họp ngày 3 tháng 9 năm 1945 là:

- Phát động một phong trào tăng gia sản xuất để chống đói cho nhân dân, mở ngay một cuộc lạc quyên gạo để giúp đỡ người nghèo.

-                     Mở chiến dịch chống mù chữ.

-                     Gấp rút tổ chức một cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân.

-                     Mở phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ những thói hư tật xấu của chế độ cũ để lại

-                     Bỏ ngay ba thứ thuế vô nhân đạo: thuế thân, thuế chợ, thuế đò.

-                     Tuyệt đối cấm hút thuốc phiện, ra tuyên bố tự do tín ngưỡng và thực hiện lương giáo đoàn kết [4]

Ở xã nhà các nhiệm vụ cấp bách trên đã được tổ chức học tập và triển khai sâu rộng hết sức phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân. Trong đó, ba phong trào có sức thuyết phục lớn theo lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc này là các phong trào : “diệt giặc đói”, “diệt giặc dốt” và “diệt giặc ngoại xâm”.

* Về phong trào “Diệt giặc đói”

Nạn đói lịch sử vào đầu năm 1945 đã cướp đi hàng trăm sinh mạng đồng bào trong xã. Khi cách mạng thành công thì nạn đói vẫn còn tiếp diễn để lại hậu quả nặng nề. Song với niềm phấn khởi vô biên, được sống trong độc lập tự do vừa giành được của đất nước, các tầng lớp nhân dân xã nhà đã chung sức, chung lòng nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, vượt qua mọi thử thách hiểm nguy để giúp nhau trong cuộc sống.

Trước hết, ban cứu tế các làng được thành lập ra sức vận động nhân dân nhất là những nhà giàu có, những người hảo tâm, ủng hộ tiền gạo với khẩu hiệu “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, tiếp tục tương trợ đồng bào.

Đặc biệt theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào “đồng tâm bớt bữa” được phát động mạnh mẽ. Phong trào được thuyết phục qua sự gương mẫu của Người. Bởi vậy trong làng xã, phong trào lập “hũ gạo cứu đói” được dấy lên mạnh mẽ. Theo thống kê toàn xã lúc này, chỉ trong vòng …………. tháng đã thu được ………….. ………………… gạo từ hũ gạo tiết kiệm kịp góp phần cứu trợ nhiều gia đình mất bữa, ổn định đời sống nhân dân.

Một chủ trương rất quan trọng của Chính phủ được chính quyền lâm thời các làng trong xã thực hiện triệt để ngay sau ngày cách mạng thành công là việc thủ tiêu các thứ thuế thân, thuế chợ, thuế đò cùng với những khế ước nợ nần vô lý của chế độ cũ để lại. Các hủ tục lạc hậu như “xôi cân gà lượt” trong các cỗ phe, cỗ giáp, khao vọng làng văn làng võ, làng trùm, làng trai đều được xóa bỏ. Đồng thời các tệ nạn bói toán mê tín dị đoam, đồng bóng cũng được bài trừ có hiệu quả. Tất cả đã góp phần cải thiện bước đầu ổn định đời sống nhân dân.

Đi liền với công tác trên, là phong trào Tăng gia sản xuất.

Theo chủ trương của các cấp từ tỉnh đến huyện, ban Tăng gia sản xuất các làng được thành lập, khẩn trương tiến hành đề ra các kế hoạch, biện pháp, khai phá đất đai hoang hóa, cồn cao, bụi rậm, ven đê, ven đồng để gieo trồng cây lương thực, cây thực phẩm ngắn ngày như khoai lang, bầu bí và khai thông các ao hồ trồng rau muống cạn, rau muống bè trên mặt nước. Trong đó nổi bật là phong trào trồng khoai lang ụ trên các mảnh đất hẹp hoặc lối đi lại nơi ngõ xóm sân vườn.

Bên cạnh giải pháp tình thế nhằm kịp cứu đói cho nhân dân, một chủ trương mang tính chiến lược là việc phân cấp ruộng đất cho dân cày nghèo. Hàng chục ha công điền, công thổ, đất vắng chủ, ruộng phe giáp… được chia lại công bằng cho nhân dân không kể nam nữ trong đó ưu tiên cho những gia đình bần cố nông.

Nhà có số ruộng đất nhiều thì nhường cho nhà ít. Tính đến hết năm 1945 mỗi nhân khẩu trong xã đã có ít nhất một sào Trung bộ để cày cấy. Việc giảm tô cho tá điền, giảm tức cho dân nghèo cũng được thi hành có hiệu quả. Các điền chủ đã tự nguyện giảm tô 20% cho người làm ruộng rẻ, giảm tức còn 10% cho người vay nợ.

Do được làm chủ xã hội và các cấp chính quyền lâm thời nhanh chóng thực thi triệt để các chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ nên chỉ trong vòng 3 tháng cuối năm 1945, đời sống nhân dân trong xã hầu hết đã bước qua được nạn đói. Vụ mùa năm 1945 cho thu hoạch khá càng tạo nên niềm phấn khởi trong giai cấp nông dân. Mọi hoạt động đời sống mới của làng xóm được đẩy mạnh.

*Về phong trào “diệt giặc dốt”.

Gánh nặng thất học do chế độ cũ để lại đối với toàn dân ta đã gây không ít khó khăn cho việc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Quán triệt lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mở chiến dịch chống nạn thất học, từ trung tuần tháng 9 năm 1945, công tác xóa nạn mù chữ trong các tầng lớp nhân dân được đặt ra cấp bách với tinh thần diệt giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm.

Chính quyền lâm thời làng, tổng đã cử ra các ban xóa nạn mù chữ với tên gọi là “Ban diệt dốt”. Thành viên của ban gồm các thanh niên học sinh, các hương sư và những người biết chữ Quốc Ngữ trước đó, cả những nhà nho có uy tín. Số này được huy động làm “cán bộ diệt dốt”, “giáo viên diệt dốt” có nhiệm vụ tổ chức việc học trong nhân dân, trong các đoàn thể cứu quốc, mua sắm giấy bút, phấn bảng, tìm nơi học và vận động người đi học đồng thời trực tiếp giảng dạy cho người học. Mỗi làng có 2 – 3 “tổ diệt dốt” lập theo địa bàn dân cư. Các lớp học được tổ chức linh động, thuận tiện ở từng cụm gia đình, cụm thôn xóm. Hầu hết đình, chùa, điếm canh, nhà dân rộng rải đều được sử dụng vào việc mở lớp. Bàn ghế học tập là cánh cửa, phản ván, chiếu giường… Cả người dạy lẫn người học đều tự tìm lấy địa điểm, chọn thời gian thích hợp để học. Học sáng sớm, học buổi trưa, học buổi tối, học trong nhà, học trong vườn cây, học nơi lao động, nơi bán hàng, học trước giờ khai hội, lúc giải lao… nghĩa là có rãnh rỗi thì học ngay. Cũng có nơi, có lúc việc học được tổ chức luôn trên đồng ruộng vừa lao động vừa đánh vần chữ Quốc Ngữ. Bà con tiểu thương ở chợ huyện vừa bán hàng, vừa đọc sách chữ cái a, b, c…

Phong trào học chữ Quốc Ngữ dấy lên rộng khắp trong thôn xóm, được coi là hoạt động xã hội lúc này với phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị “vợ chưa biết chữ thì chồng bảo, em chưa biết chữ thì anh bảo, cha mẹ không biết chữ thì con bảo, người ăn, người ở, người làm không biết chữ thì chủ nhà bảo”[5]

Trên cơ sở đó, các làng trong xã, đâu đâu cũng rộn rã tiếng đánh vần chữ Quốc Ngữ của đủ các thế hệ, các giới đồng bào. Một hồi kẻng hoặc trống mỏ vang lên lúc buổi trưa, buổi tối hoặc sáng tinh mơ là lớp lớp nhân dân, trong đó có nhiều cụ già 60 – 70 cũng hăng hái đến lớp học đánh vần từng chữ Quốc Ngữ bên cạnh các cháu vị thành niên. Nhiều phụ nữ có con mọn vừa bồng con vừa dở sách học vần bằng, vần trắc của chữ Quốc Ngữ. Có người hôm nay là học viên ngày mai đã là giáo viên dạy được các chữ cái Quốc Ngữ cho bà con.

Việc học như vậy đã trở thành hoạt động quần chúng sôi nổi tích cực rộng khắp nên chỉ không đầy 3 tháng sau cách mạng thành công, toàn xã đã có khoảng 30% dân số biết đọc, biết viết chữ Quốc Ngữ.

Đây là thành quả rất to lớn, rất đáng tự hào mà các thế hệ cán bộ xã nhà đã tận tụy đóng góp một cách khẩn trương tích cực đặt nền móng cho việc nâng cao dân trí, dân sinh, dân chủ ở địa phương. Thành quả ấy đã được nhân lên gấp bội trong việc thực hiện các chủ chương chính sách của Đảng và chính phủ, đồng thời trước mắt là việc hạn chế có hiệu quả nhiều tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan, đồi phong bại tục… Từ đó nếp sống mới trong các mối quan hệ hôn nhân gia đình, dòng tộc, đoàn thể xã hội và những kiến thức vệ sinh phòng bệnh như ăn chín uống sôi, dọn dẹp sân vườn, nhà cửa phong quang sạch sẽ, được cỗ vũ rộng rãi ở địa phương. Trên cơ sở này các hoạt động văn hóa quần chúng như ca khúc cách mạng, hội trại, diễn kịch, kẻ vẽ khẩu hiệu, phát thanh tin tức, tuyên truyền xây dựng con người mới, cuộc sống mới đều được các tầng lớp nhân dân tham gia đông đảo, sôi động.

* Về phong trào “Diệt giặc ngoại xâm”

Ngày 23 tháng 9 năm 1945 thực dân Pháp gây hấn ở Nam bộ, trước nguy cơ cuộc chiến tranh diễn ra trong toàn cõi Đông Dương, tháng 10 năm 1945, ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra “Chỉ thị kháng chiến kiến quốc” nêu rõ: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng” [6]

Quán triệt chỉ thị của Trung ương Đảng và thấm nhuần Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước vườn hoa Ba Đình – Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 1945, toàn thể nhân dân ta “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy” [7]

Trong tuần lễ vàng được thực hiện vào tháng 9 năm 1945, do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động, các tầng lớp nhân dân xã nhà đã hăng hái đem tấm lòng vàng của mình để hưởng ứng giữ vững nền độc lập dân tộc. Phong trào đã thu hút nhiều giới đồng bào tham gia. Chỉ trong một tuần phát động, toàn xã nhà đã thu được ………. chỉ vàng. Có phụ nữ đang buổi chợ khi được loa thông tin kêu gọi, liền cởi hoa tai vàng đang đeo, gửi cán bộ ủng hộ chính phủ gây “quỹ độc lập”.

Trong nhân dân ta lúc này có câu:

“Đeo vàng chi tổ nặng tai

Đeo xuyến nặng cổ hỡi ai có vàng

Làm dân một nước vẻ vang

Đem vàng cứu nước giàu sang nào tày.”

Tuần lễ đồng cũng vậy. Phong trào được phát động rộng rãi với sự thu gom đồng phế liệu của các đoàn thể quần chúng và sự ủng hộ quyên góp của một số gia đình có chậu thau đồng, mâm đồng, nồi đồng và cao hơn nữa cả đồ thờ cúng bằng đồng như lư hương đồng, hạc đồng, nến đồng đã được đem đến ủng hộ chính phủ. Tổng cộng toàn xã lúc này đã huy động được ………….kg đồng ủng hộ xây dựng Quỹ quốc phòng của Nhà nước.

Bên cạnh việc ủng hộ đóng góp của cải giữ vững chính quyền dân chủ nhân dân thì việc xây dựng củng cố phát triển lực lượng bán vũ trang ở cơ sở để bảo vệ nền độc lập dân tộc cũng đã được, quán triệt, triển khai nhanh chóng ở làng Tổng.

Sau cách mạng mỗi làng trong xã lúc này có 20 – 30 đội viên tự vệ cứu quốc. Được nhân dân ủng hộ, quan tâm chăm sóc, các đội tự vệ đều được trang bị mũ calô, xà cạp, túi rết, các vũ khí thô sơ và tiến hành việc luyện tập quân sự thường xuyên đồng thời tăng cường phát triển số lượng. Mỗi làng đều lập ra một trung đội phân công đội viên tuần tra canh gác không kể ngày đêm tại các đầu mối giao thông trong xã Các điếm canh của tự vệ ở đầu làng, bìa làng, cổng làng cũng được thành lập nhằm theo dõi thường xuyên bọn lưu manh, kẻ lạ mặt có hành vi khả nghi qua lại.

Hàng tháng tự vệ các làng đều triển khai các cuộc thao diễn quân sự tập trung 3 – 4 ngày. Mọi việc hậu cần đều do nhân dân giành cả vật chất và ngày công phục vụ. Nhờ vậy mà công tác giữ gìn trật tự xã hội, an ninh quốc phòng được bảo đảm có hiệu quả. Các tầng lớp nhân dân được sống trong độc lập tự do tỏ rõ vai trò người làm chủ xã hội mới.

Tháng 11 năm 1945 hưởng ứng phong trào “Nam tiến” (tức vào Nam bộ đánh giặc), hàng chục thanh niên như các anh: Lương Quang Bồi, Lương Quang Bao, Nguyễn Văn Nhược, Cao Văn Hảo, Lê Văn Xớn, Lê Văn Hồng, Lê Duy Đạt… gia nhập vào quân đội nhân dân, hăng hái lên đường giết giặc, giữ nước. thanh niên xã nhà, tại cuộc mít tinh toàn huyện ở chợ Gòng (nay thuộc thị trấn Bút Sơn) đã tình nguyện ghi tên lên đường chiến đấu chống kẻ thù chung, sau đó có người như ông Nguyễn Hữu Tăng (Phượng Đình) được bố trí đi “Nam Tiến” đầu tiên của xã. Có người tham gia bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương.

Vậy là chỉ trong vòng 3 tháng cuối năm 1945, độc lập dân tộc đã trở về tay nhân dân, được Đảng, Chính phủ sát sao lãnh đạo, được Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm xây dựng chính quyền của dân, tôn vinh vai trò nhân dân, chăm lo đến quyền lợi nhân dân, các ủy ban lâm thời cách mạng các làng trong xã đã nêu cao được ý thức lãnh đạo, chỉ đạo, tận tâm với nhân dân nên bước đầu đã thu được thắng lợi trong việc xây dựng chính quyền mới, cuộc sống mới ở nông thôn, mang ý nghĩa cách mạng và nhân văn sâu sắc. Đó là bước ngoặt nhảy vọt về vai trò làm chủ của nhân dân ta, làm tiền đề cho công cuộc xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân khi các đơn vị hành chính xã ra đời.

THAM GIA BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA I.

Đầu năm 1946 thi hành một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ lâm thời là “gấp rút tổ chức một cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự do dân chủ nhân dân”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 6 tháng giêng năm 1946, cả nước tưng bừng bước vào ngày hội non sông với cuộc bầu cử Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ở xã nhà cả 4 thôn được lập thành 4 khu vực bầu cử với gần 100% cử tri tham gia một cách sôi nổi phấn khởi.

Tuy nhiên có được ngày bầu cử sôi nổi thắng lợi ở địa phương, công tác tuyên truyền của Việt Minh và ban bầu cử đã được diễn ra rộng khắp. Lần đầu tiên nhân dân ta được biết đến bầu cử Quốc hội bằng hình thức phổ thông đầu phiếu, ai ai cũng phấn khởi nhưng không khỏi bở ngỡ về cách thức bầu cử, nên việc bồi dưỡng nhận thức và cách thức bầu cả là hết sức quan trọng. Ban bầu cử, ngoài việc tổ chức địa điểm, ngày bầu cử còn đến từng cụm dân cư, họp nhân dân để phổ biến về bầu cử, về quyền lợi tối cao làm chủ của mỗi người công nhân trong chế độ mới. Nhiều câu thơ được ghép vần các ứng cử viên cũng được sáng tác để nhân dân dễ nhớ, dễ thuộc khi đi bầu.

Những ngày này, khắp các đường làng, ngõ xóm, các hộ gia đình, đâu đâu cũng phấp phới cờ đỏ sao vàng, băng khẩu hiệu chào mừng ngày hội lớn của dân tộc. Các điểm bầu cử được trang hoàng lộng lẫy cờ Tổ quốc, ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, đèn lồng đủ mầu sắc. Các cổng chào điểm bầu cử được trang trí hoa lá rực rỡ. Hết thảy các tầng lớp nhân dân, không phân biệt trai gái, già trẻ, tôn giáo, dân tộc, giàu nghèo, thành phần giai cấp, chính kiến xã hội, nơi cư trú… từ 18 tuổi trở lên đều được đi bầu cử. Mờ sáng ngày 6 tháng Giêng năm 1946, một không khí náo nức diễn ra trong các tầng lớp nhân dân với trang phục chỉnh tề, kết thành dòng người, tấp nập tới các điểm bầu cử. Tiếng loa chào đón của ban bầu cử, tiếng trống ếch rộn ràng của các đội thiếu niên ở mỗi cơ sở như nâng từng bước chân của nhân dân ta đi làm nghĩa vụ thiêng liêng của người công dân sống trong một nước độc lập tự do.

Điều hết sức phấn khởi là bước vào ngày bầu cử, trong các tầng lớp nhân dân ta, lần đầu tiên nhiều cử tri biết đọc, biết viết chữ Quốc Ngữ đã tự tay mình viết vào lá phiếu bầu mà lúc này các đại biểu đắc cử Quốc hội ngoài số chiến sĩ cách mạng đương thời còn có một số thân hào, thân sĩ yêu nước thể hiện sự đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân mà Đảng ta và Bác Hồ đã lãnh đạo thắng lợi.

Sau bầu cử Quốc hội thành công, tháng 4 năm 1946, các đơn vị hành chính xã mới của huyện được thành lập. Cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp được tiến hành. Theo chủ trương của trên, toàn huyện Hoằng Hóa lúc này có 8 tổng, 176 xã thôn cũ được lập thành 54 xã mới. Ở xã nhà các thôn Phượng Ngô, Nghĩa Lập, Phú Lễ, Phục Lễ và các thôn Ngọc Long, Phong Mỹ, Hội Triều, làng Ất (Hoằng Phong ngày nay)  thuộc xã Trào Âm, thôn Khê Xá (Phượng Khê)  thuộc xã Hoằng Đạo.

HĐND xã đã họp phiên thứ nhất để bầu ra Uỷ ban hành chính xã, ông Lương Quang Huy được bầu làm chủ tịch lâm thời, mỗi thôn có một thôn trưởng, một thôn đội, một thư ký và một số giúp việc.

Sau khi các xã mới ra đời, Ủy ban lâm thời làng tổng giải thể. Thay vào đó là các trưởng thôn, trưởng xóm đặt dưới sự chỉ đạo của Ủy ban hành chính xã.

Với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của huyện ủy và ủy ban hành chính huyện, từ đây ủy ban hành chính các xã là cơ quan điều hành thực thi pháp luật nhà nước của chính quyền dân chủ nhân dân tại địa phương.

Vậy là bước vào thành lập chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên, xã nhà có 5 làng thì được chia thành 2 bộ phận thuộc 2 đơn vị xã mới. Tuy thế việc triển khai các nhiệm vụ chính trị đều được tiến hành có hiệu quả trên các mặt hoạt động xây dựng bảo vệ đời sống mới.

* Về kinh tế

Do điều kiện tự nhiên và xã hội, nền kinh tế của xã chủ yếu vẫn là nông nghiệp. Sau khi có sự điều chỉnh bước đầu về ruộng đất ở các xã thì hầu hết các hộ dân cư đều có ruộng cày nên lao động được tập trung vào phong trào tăng gia sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng, con nuôi, thu nhập hộ gia đình. Một số ruộng đất xâm canh của các xã lân cận được sự chỉ đạo của trên, đã hiệp thương chuyển đổi phân lại địa giới canh tác, thuận tiện cho việc sản xuất của nhân dân.

Các chế độ tô tức, thuê mướn nhân công được thực hiện bước đầu phù hợp với quyền lợi của chủ điền và tá điền. Các tư liệu sản xuất cũng được tăng cường đến tay người lao động.

Trong nông nghiệp, khẩu hiệu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” đã làm dấy lên phong trào đầu tiên cải tiến khoa học kỹ thuật, chăm sóc ruộng đồng gieo trồng kịp thời vụ do các thôn trưởng, xóm trưởng chỉ đạo. Nổi bật là việc làm thủy lợi, đào mương, nạo vét dòng chảy để chủ động tưới tiêu trong trồng trọt. Một số giống mới cũng được đưa vào sử dụng gieo trồng ở cả 2 vụ đã góp phần làm tăng sản lượng lương thực. Tính đến cuối năm 1946, các thôn đều có quân bình năng suất lúa 3 tấn/ha/năm, tăng 1,5 lần so với trước cách mạng. Sản lượng hoa mầu cũng được nâng lên bằng mở rộng gieo trồng các loại rau xu hào, đậu, hành, tỏi ở vụ đông, đáp ứng thị trường vùng ven thành phố đưa đến thu nhập mỗi hộ gia đình quân bình năm tính ra thóc đạt 3 – 4 tạ.

Công tác chăn nuôi cũng được xúc tiến nhiều ở cơ sở nhất là nuôi vịt lấy trứng. Có gia đình ở thời gian này đã nuôi tới hàng trăm con. Số lượng gà, lợn cũng tăng 1,5 lần bình quân cho mỗi hộ gia đình so với trước cách mạng.

Từ các sản lượng trên, khẩu phần lương thực quy thóc tính theo đầu người trong năm 1946 đạt 150 kg/năm. Đây là thành quả bước đầu có thu nhập cao cho mọi  người dân, ai ai cũng phấn khởi. Nó đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân đi vào xây dựng đời sống mới một cách chủ động, sáng tạo.

* Về văn hóa xã hội

Trên nền chính trị của chế độ mới, công tác này được quan tâm triển khai liên tục.

- Ngành học phổ thông: Vào đầu niên khóa 1945 – 1946 số con em đang theo học tiếp tục cắp sách tới trường trong niềm hân hoan được học tập dưới mái trường chế độ mới với lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ phần lớn công học tập của các cháu”[8]

Trong ngày khai trường đầu tiên dưới chế đội mới, lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gây dấu ấn lịch sử trong nhiều cuộc đời từ tuổi ấu thơ. Nhiều phụ huynh có con em đi học lúc này dâng trào niềm vinh hạnh nghĩ tới tương lai của đất nước, càng thôi thúc sự động viên cổ vũ mở rộng trường lớp giáo dục con em.

- Ngành học (phong trào) bình dân học vụ: Nổi bật trong năm 1946 là phong trào tiếp tục xóa nạn mù chữ, mở lớp bình dân học vụ. Mỗi xóm trong năm đã có ít nhất một lớp bình dân với số theo học thường xuyên cũng đạt tới 40 – 50 người. Đến cuối năm 1946 toàn xã có trên dưới 50% số cử tri biết chữ Quốc Ngữ. Đây là thành quả to lớn góp phần quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt của xã trong những chặng đường tiếp nối.

- Công tác giáo dục vỡ lòng cũng được đặt ra kịp thời dưới chế độ mới. Mỗi thôn có 1 – 2 lớp vỡ lòng với khoảng 20 em mỗi lớp ở độ 7 – 8 tuổi, do các hương sư giảng dạy không thù lao. Nhận thức được nhu cầu khẩn thiết dạy chữ cho con em hầu hết các tầng lớp nhân dân đã quan tâm đến việc đưa con cháu ra lớp học vỡ lòng. Có nhiều gia đình còn mời thầy về nhà dạy tư cho con cháu, nuôi cơm thầy và trả thù lao xứng đáng.

- Công tác thông tin tuyên truyền luôn được phát động trở thành một hoạt động sôi nổi. Mỗi thôn, xóm đều có một đội thông tin cổ động kẻ vẽ khẩu hiệu cách mạng với những nét chữ trang nghiêm, ngay ngắn, thu hút quần chúng hướng về mọi thành quả, mọi chủ trương chính sách của Đảng trong việc xây dựng bảo vệ đời sống mới nhân dân. Tối tối từng đội phát thanh lưu động, với chiếc đèn chai thắp bằng dầu hỏa, chiếc loa tay làm bằng giấy bồi hoặc sắt tây mang theo tờ báo của Đảng lưu động khắp xóm thôn, loa truyền đến mọi nhà, mọi người những tin tức và nhiệm vụ cách mạng mới.

Đội văn nghệ không chuyên của từng thôn xóm được thành lập gồm những thanh niên nam nữ có giọng hát hay và nhiệt tình tuổi trẻ. Đêm đêm nhiều bài hát cách mạng được tập luyện sôi nổi, nhộn nhịp nơi sân đình, ngõ xóm, đường làng, làm dấy lên sống động không khí náo nức của người chủ nhân dưới chế độ mới.

- Công tác y tế lúc này chủ yếu đi sâu vào vệ sinh phòng bệnh với khẩu hiệu “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Mỗi xóm có một vệ sinh viên đảm trách việc tuyên truyền ăn chín uống sôi, diệt ruồi muỗi, khơi thông cống rãnh, phát quang đường làng ngõ xóm, dọn dẹp nhà cửa sân vườn và tiêm chủng phát thuốc chữa các bệnh thông thường.

Nhờ công tác này được thường xuyên chú ý nên trong những năm sau cách mạng, nhiều bệnh dịch như sởi đậu, lỵ tả đã được đẩy lùi nhanh chóng có hiệu quả.

* Về công tác xây dựng lực lượng bán vũ trang và bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội

Năm 1946 sau khi thành lập đơn vị hành chính xã mới, mỗi xã đều có một ban quân sự. Lúc này số lượng tự vệ cứu quốc ở thôn lớn phát triển gần 100 đội viên, thôn nhỏ cũng có khoảng 30 người được biên chế thành các trung đội, tiểu đội. Tự vệ các thôn tăng cường tổ chức huấn luyện chính trị chủ yếu là học tập các chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước về bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, nâng cao cảnh giác, sẳn sang đối phó với mọi âm mưu chiến tranh mà kẻ thù ngoại  xâm đang tiến hành ở miền Nam. Việc huấn luyện quân sự đi sâu vào tập luyện các yếu lĩnh quân sự bằng các vũ khí thô sơ. Các lò rèn ở mỗi thôn xóm được mở rộng, rèn sắm thêm các loại gươm, giáo, mác, dao găm cho tự vệ. Hàng tháng có một tuần lễ để tự vệ huấn luyện tập trung thao diễn kỹ thuật, chiến thuật.

Ngành công an cũng được thành lập ở thời kỳ này với tên gọi là Ban tuần sát. Mỗi thôn có một tổ tuần sát gồm 3 – 4 người. Ban tuần sát vừa tham gia sản xuất, vừa triển khai các hoạt động tuần tra xóm làng, đồng ruộng đảm bảo an toàn tính mạng tài sản của nhân dân sở tại.

* Về xây dựng, củng cố các đoàn thể quần chúng

Năm 1946 khi lập đơn vị hành chính mới thì mỗi xã có một ban Việt Minh.

Ban Việt Minh xã Trào Âm do ông …… (thôn ……) làm chủ nhiệm

Ở mỗi thôn có một tiểu tổ Việt Minh làm nhiệm vụ tuyên truyền vận động phát triển hội viên cứu quốc.

Từ cuối năm 1945 đến hết năm 1946, các đoàn thể cứu quốc như TNCQ, PNCQ, nông dân cứu quốc, phụ lão cứu quốc, nhi đồng cứu quốc… đều được tổ chức, phát triển nhanh mạnh hội viên. Các hội cứu quốc nêu cao vai trò chính trị của mình tham gia tích cực vào công tác xây dựng, bảo vệ đời sống mới như đoàn thanh niên cứu quốc chăm lo việc tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, làm nòng cốt trong công tác phát thanh, kẻ vẽ khẩu hiệu, hoạt động văn nghệ, tham gia bình dân học vụ, xây dựng đời sống mới và triển khai có hiệu quả công tác xây dựng lực lượng bán vũ trang…

Hội phụ nữ tăng cường xây dựng phong trào người phụ nữ mới, thục hiện nam nữ bình quyền.

Hội nông dân cứu quốc chăm lo công tác khai hoang phục hóa, mở rộng diện tích cây trồng, thực hành sản xuất tiết kiệm, bước đầu phát triển thâm canh tăng năng suất.

Hội phụ lão cứu quốc chăm lo công tác vệ sinh đường làng trồng cây cảnh tạo mỹ quan môi trường.

Đội thiếu nhi cứu quốc xây dựng phong trào thiếu niên Trần Quốc Toản, tổ chức hội trại, tập múa hát, tham gia tích cực phong trào học tập tại nhà trường.

Tháng 6 năm 1946, bên cạnh mặt trận Việt Minh, theo chủ trương của Đảng, hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là hội Liên Việt) thành lập.

Tiếp theo tháng 11 năm 1946, hội Liên hiệp phụ nữ và Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam được tổ chức.

Các hội quần chúng trên đây nhằm mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc đã thu hút đông đảo các giới đồng bào trong xã không phân biệt chính kiến, tôn giáo, thành phần giai cấp… đi vào công cuộc xây dựng đất nước trong độc lập tự do, đổi mới đời sống nhân dân.

Công tác này ở xã nhà đã mang lại nhiều hiệu quả trong việc đóng góp xây dựng đất nước như đợt đóng “đảm phụ quốc phòng” vào cuối năm 1946, toàn xã đã huy động được trên chục tấn thóc từ các gia đình hằng tâm, hằng sản, đóng góp cho nhà nước.

* Về công tác xây dựng Đảng

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, xã nhà chưa có đảng viên. Một số quần chúng giác ngộ cách mạng đã hăng hái tham gia Việt Minh tổng.

Cuối năm 1945, để phù hợp với tình hình mới, Đảng ta tuyên bố “tự giải tán” và lập ra “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lê nin” nhằm giáo dục bồi dưỡng những quần chúng tiên tiến, tìm hiểu về Đảng và tự nguyện tham gia Đảng. Ở Tổng Bái Trạch lúc này được sự lãnh đạo của Huyện ủy, hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác được lập Hội đã thu hút được nhiều học sinh và nhiều thanh niên tiến bộ, có cả một số nhà giáo tham gia hoạt động rất tích cực trong việc tìm hiểu đọc các sách kinh điển về Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhiều người tham gia hội sau này đã trở thành đảng viên, cốt cán của phong trào cách mạng cơ sở.

Vậy là sau một năm hoạt động (1946) với sự ra đời của các đơn vị hành chính mới, xã nhà cơ bản là bộ phận thuộc xã Trào Âm, có bộ phận thuộc xã Hoằng Đạo, nhưng được sự lãnh đạo, sát sao của Huyện ủy, Việt Minh huyện, hầu hết cán bộ ở các thôn xóm đã nêu cao tinh thần tự lực tự cường, năng động sáng tạo và nhất là ý chí đoàn kết toàn dân dựa vào dân là chính để hoạt động có hiệu quả trong bước đầu xây dựng đất nước độc lập tự do. Đời sống các tầng lớp nhân dân được đổi thay trên nhiều mặt, chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó vai trò làm chủ của nhân dân được khẳng định, đề cao như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bức thư gửi các ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện, làng tháng 10 năm 1945 đã nêu: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì” [9]

Tác phong công tác của cán bộ gần dân, sát dân, tận tụy với dân, tôn trọng quyền làm chủ và đảm bảo lợi ích chính đáng của dân, hướng dẫn chỉ đạo nhân dân đi vào xây dựng cuộc sống mới một cách nhanh mạnh có hiệu quả đã để lại bài học quý  về xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, thực sự là của dân do dân và vì dân ([10])

2. Hoằng Lưu xây xựng, bảo vệ hậu phương vững chắc, góp phần chi viện kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1947-1954).

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” khẳng định ý chí quyết tâm sắt đá của dân tộc ta là:

“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và Người kêu gọi toàn thể nhân dân ta: “Bất kỳ đàn ông đàn bà, bất kỳ người già người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước” [11]

Lúc này, để phù hợp với tình hình kháng chiến toàn quốc diễn ra, đầu năm 1947, theo chủ trương của trên, các đơn vị hành chính xã được cơ cấu lại. Ở Hoằng Hóa từ 54 xã năm 1946 thì đến đầu năm 1947 được tổ chức lại thành 12 xã lớn.

Ba xã Liên Châu (gồm các thôn: Liên Châu, Hoàng Trung, Thụy Liên), Tân Dân (gồm các thôn: Bột Trung, Cẩm Trung, Cẩm Vinh, Trung Hòa, Đồng Lọng) và xã Trào Âm (gồm: Phong Mỹ, Hội Triều – Hoằng Phong; Phục Lễ, Nghĩa Lập, Phú Lễ, Phượng Ngô – Hoằng Lưu) tháp nhập lại và thành lập nên xã Hoằng Châu. Chủ tịch UBHC xã là ông Lương Hữu Du (Hội Triều). Do yêu cầu của kháng chiến đặt ra nên bên cạnh UBHC các cấp còn có Ủy ban kháng chiến. Năm 1948, hai ủy ban này được nhập thành Ủy ban hành chính kháng chiến, ông Lương Hữu Du (hay Lường Hữu Hưng) tiếp tục được bầu làm chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã Hoằng Châu. Bên cạnh Ủy ban hành chính còn có Uỷ ban kháng chiến xã được thành lập và sau đó không lâu, Uỷ ban kháng chiến được sát nhập với ủy ban hành chính gọi là Uỷ ban kháng chiến hành chính .

Trên cơ sở tháp nhập xã, tháng 3 năm 1947 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Khắc Cầm – Bí thư Huyện ủy, chi bộ đảng xã Hoằng Châu  được thành lập lấy tên là chi bộ Hoàng Ngân.  Chi bộ gồm 7 đảng viên do đồng chí Lê Văn Xớc được bầu làm bí thư. Lúc này chi bộ gồm có hai tổ đảng là tổ đảng Trào Âm và tổ đảng Liên Châu. Được sự quan tâm dìu dắt của chi bộ, tổ đảng Trào Âm bước vào thời kỳ phát triển mạnh. Tháng 8 năm 1947 thực hiện tinh thần chỉ thị của Trung ương Đảng về việc kết nạp đảng viên lớp tháng 8; công tác giáo dục, bồi dưỡng, lựa chọn những người ưu tú tăng cường cho Đảng được tiến hành chu đáo. Đợt này xã nhà có đồng chí Nguyễn Hữu Lậu vinh dự được kết nạp vào Đảng, đây là đảng viên Đảng Cộng sản đầu tiên của xã Hoằng Lưu (Có đúng không)?

Cuối năm 1949, dưới sự chỉ đạo của huyện, xã Hoằng Châu được chia thành 2 xã lấy tên là xã Hoằng Phong và Hoằng Châu. Xã Hoằng Phong bao gồm các làng Hội Triều, Ngọc Long, Phong Mỹ, Thụy Liên (nay thuộc xã Hoằng Phong), Phượng Ngô, Nghĩa Lập, Phục Lễ, Phú Lễ (nay thuộc xã Hoằng Lưu) do ông Cao Văn Thặt làm chủ tịch. Sự ra đời của chính quyền xã mới đòi hỏi một tổ chức đảng tương xứng. Ngày 19 tháng 9 năm 1949 đảng bộ huyện Hoằng Hóa ra quyết định thành lập chi bộ Đảng xã Hoằng Phong dựa trên cơ sở tổ đảng Trào Âm. Đồng chí Cao Văn Thặt được chỉ định làm bí thư lâm thời. Các hoạt động của xã Hoằng Lưu lúc bấy giờ được đặt dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của chi bộ xã Hoằng Phong. Dưới sự chỉ đạo của chi bộ mới toàn thể đảng viên và quần chúng nhân dân tích cực tham gia đợt phát động đóng góp tiền xây dựng quỹ đảng bộ tỉnh, huyện, xã.

Bên cạnh việc kiện toàn hệ thống chính trị, chi bộ đảng, chính quyền đã kịp thời tổ chức các đoàn thể quần chúng học tập chủ trương đường lối kháng chiến của Đảng như: Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, “Toàn dân kháng chiến”, “Toàn diện kháng chiến”, “Trường kỳ kháng chiến”. Đồng thời phát động toàn dân tiếp tục chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Bằng các biện pháp tích cực như: Tăng gia sản xuất, động viên nhân tài vật lực cho cuộc kháng chiến, đẩy mạnh công tác bố phòng, đào hào đắp lũy, cắm cọc tre, sẵn sàng chống giặc càn và nhảy dù.

Thời kỳ này các đoàn thể cứu quốc như: Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nhi đồng cứu vong đi vào hoạt động có nề nếp. Ngoài ra từ xã đến các thôn đều lập ra “Hội Mẹ chiến sĩ”, “Hội phụ lão kháng định” để vận động đỡ đầu gia đình bộ đội, ủng hộ chiến sĩ và làm nhiệm vụ canh gác làng, bãi biển, cửa Lạch Trường, Lạc Trào, cầu Cách.

Để giải quyết vấn đề lương thực, ngay sau khi Đại hội đại biểu Nông dân cứu quốc lần thứ nhất của huyện được tổ chức (tháng 10/1947). Chi bộ Đảng và Ủy ban hành chính xã, phát động quần chúng tiếp tục tập trung khai hoang phục hóa mở rộng diện tích cây trồng, đẩy mạnh công tác thủy lợi, làm phân bón (phân chuồng, phân xanh) áp dụng phương châm: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Cải tiến kỹ thuật gieo trồng một số loại cây lương thực, hoa màu phổ biến như: khoai lang, ngô, sắn, đậu, lạc, vừng. Và một số cây công nghiệp ngắn ngày như: Đay, bông, dâu, cói được đưa vào sản xuất để đảm bảo việc cung ứng kịp thời cho tiền tuyến.

Năm 1948 hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thi đua ái quốc” thực hiện làm công việc gì cũng “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”. Toàn xã dấy lên phong trào thi đua trồng khoai lang, rau muống bè.

Năm 1949 là năm bản lề trong công cuộc xây dựng hậu phương chống thực dân Pháp. Phong trào xây dựng tổ đổ công, được đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hưởng ứng. Giải quyết kịp thời yêu cầu sản xuất, tập trung lực lượng chi viện cho tiền tuyến.

Trong năm này Chi bộ Đảng cùng chính quyền tổ chức hướng dẫn quần chúng thực hiện chủ trương của Chính phủ như: chính sách đổi tiền, chính sách tạm cấp ruộng đất, chính sách giảm tô 25% (kết hợp hiến điền). Nhằm bồi dưỡng sức dân để tham gia kháng chiến trong giai đoạn mới.

Nhờ làm tốt công tác khai hoang phục hóa, công tác thủy lợi, phân bón, năng suất lúa và các loại cây màu cho thu hoạch khá. Một số hộ gia đình còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, cá hoặc làm thêm nghề phụ như: đan rổ, rá, thừng, nhủi, nơm,... góp phần tăng thu nhập. Đời sống người dân trong xã từng bước đi vào ổn định. Đủ điều kiện thực hiện tốt việc cung ứng cho chiến trường.

- Hoạt động văn hóa – xã hội

Đầu năm 1947, phong trào Bình dân học vụ trong xã phát triển sâu rộng trong quần chúng. Ban bình dân học vụ của xã được thành lập, ở các thôn hình thành các  tổ giáo viên bình dân học vụ gồm hàng chục giáo viên xung phong dạy theo nguyên tắc hy sinh. Bên cạnh tổ giáo viên còn có các tổ phụ lão diệt dốt để vận động con cháu đi học. Vẫn bằng hai hình thức động viên và cưỡng bức, có 90% dân trong xã tập trung đến lớp học.

Trường Hội Triều mở thêm các lớp bậc tiểu học hết lớp 4. Cuối năm 1949 mở thêm trường cấp II tư thục, niên khóa đầu có một lớp 5. Tháng 2 – 1948, Liên đoàn giáo giới huyện được thành lập. Số trường học được tăng thêm, một số con em Hoằng Phong có điều kiện được theo học ở trường huyện.

Công tác an ninh – quốc phòng được chi bộ và chính quyền chú ý quan tâm. Thời kỳ này đội tự vệ cứu quốc biên chế thành hai lực lượng : Dân quân tự vệ và dân quân du kích.

Lực lượng dân quân tự vệ có nhiệm vụ bảo vệ an toàn trật tự địa phương. Dân quân du kích chuyên lo việc đánh giặc giữ làng. Trên địa bàn xã hình thành các trung đội du kích và trung đội dân quân tự vệ, ở các thôn lập ra thôn đội, liên đội, tiểu đội.

Tổ chức dân quân và đoàn thanh niên thi đua luyện tập quân sự, học tập văn hóa, thể thao, thể dục, tập kiếm, bắn súng, đánh mìn, đâm lê, đánh dao găm, đánh trận giả,.. tổ chức lao động xã hội chủ nghĩa như: đào ao, đánh cá, làm ruộng để gây dựng quỹ. Hưởng ứng tuần lễ “dân quân tự túc” tham gia các lần “Đại hội tập quân” “luyện tập lập công” do huyện tổ chức.

Để thực hiện việc xây dựng “làng chiến đấu” toàn xã tiến hành lệnh “tiêu thổ kháng chiến” với các phong trào “rào làng kháng chiến”. Mỗi làng đều làm cổng ra, vào làng, lập các bốt gác, điếm canh, để phòng kẻ gian xâm nhập. Thực hiện khẩu hiệu “ba không”. Ngoài ra còn đào hàng ngàn hố cá nhân và hàng ngàn mét hào giao thông, ụ tác chiến, hầm trông, trông cây xanh ngụy trang, sẵn sàng chiến đấu khi có địch.

Trong thời gian này Chính phủ phát động các đợt mua “công phiếu kháng chiến”, “công trái quốc gia”, đóng “đảm phụ quốc phòng” nhân dân trong xã đã hăng hái tham gia mua hàng trăm phiếu, với số tiền là 13.000đ và 244 tạ thóc để cung cấp cho kháng chiến.

Từ năm 1947 – 1949 xã có ...... người tham gia bộ đội. Hàng trăm dân công tham gia phục vụ Chiến dịch Việt Bắc đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Trong ba năm 1947 – 1949, dưới sự lãnh đạo của chi bộ, chính quyền và các đoàn thể, đời sống nhân dân sau ngày cách mạng thành công đang được nâng lên về mọi mặt. Sẵn sàng cùng nhân dân cả nước bước vào giai đoạn tổng phản công của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1950 - 1954).

* Hoằng Lưu trong những năm 1950 – 1954.

Năm 1950, Đảng ta chủ trương chuyển nhiệm vụ kháng chiến sang giai đoạn mới: Giai đoạn giành thắng lợi quyết định cho công cuộc giải phóng đất nước.

Lúc này thực dân Pháp cũng tăng cường mở ra các chiến dịch lớn ở Bắc Bộ, Tây Bắc, Đông Khê, Thất Khê, Hà Nam, Ninh Bình,... coi Thanh Hóa là hậu phương lớn. Dùng máy bay, tàu chiến đánh phá ác liệt các trọng điểm kinh tế, chính trị, quốc phòng. Hoằng Hóa là một trong những huyện trọng điểm bị đánh phá nhiều nơi, điển hình là vụ ném bom ngày 13 tháng 5 năm 1950 tại chợ Quăng và tiếp theo là thôn Trinh Hà, Nghĩa Trang làm chết trên 200 dân thường và nhiều trâu bò, nhà cửa tài sản khác bị phá hủy nặng.

Trước tình hình đó Đảng bộ Hoằng Hóa nhanh chóng chuyển mọi hoạt động thời chiến sang giai đọn mới (như Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ III ngày 21 tháng 1 năm 1950 đề ra).

Ngày 03 tháng 3 năm 1950 Chi bộ Hoằng Phong tiến hành tổ chức Đại hội lần thứ nhất tại gia đình ông Biềng thôn Phục Lễ, tuyên bố thành lập Chi bộ Hoằng Phong gồm 62 đảng viên.

Đại hội tổng kết, kiểm điểm tình hình hoạt động của chi bộ từ sau ngày Cách mạng tháng 8 thành công đến năm 1950, đồng thời đề ra  các nhiệm vụ như:

- Tập trung phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất tăng sản lượng lương thực hoa màu cải thiện đời sống nhân dân.

- Củng cố xây dựng lực lượng  quốc phòng an ninh nhân dân, bổ sung lực lượng chủ lực.

- Củng cố xây dựng mặt trận Liên Việt và các tổ chức quần chúng khác vững mạnh về mọi mặt.

-Giữ vững các lớp bình dân học vụ xóa nạn mù chữ cho toàn dân và phát triển thêm các lớp bổ túc.

- Xây dựng Chi bộ Đảng vững mạnh vừa củng cố vừa phát triển, kết nạp đảng viên mới tiêu biểu.

Đại hội đã bầu 7 đồng chí vào Ban chấp hành chi bộ, đồng chí Trương Văn Xức (thôn Hội Triều) được bầu làm Bí thư

Đại hội lần này được coi là sự kiện mở đầu trong quá trình hoạt động của Đảng bộ Hoằng Phong. Đây là đại hội đầu tiên của một chi bộ còn rất non trẻ xong lại đang đứng trước vận mệnh lớn của toàn dân tộc. Thắng lợi của đại hội đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt tổ chức của đảng bộ.

Sau khi học tập Nghị quyết của Chi bộ xã lần thứ nhất. Nhân dân Hoằng Phong tiếp tục thực hiện các cuộc vận động lớn của Chính phủ như mua công trái, đóng đảm phụ kháng chiến, xây dựng quỹ quốc phòng,... Nhiều cá nhân tiêu biểu ở các thôn trong xã tham gia tích cực. Tổng kết các đợt vận động, xã Hoằng Phong được tỉnh tặng thưởng 3 bằng khen và nhiều giấy khen của huyện cho tập thể và cá nhân.

Năm 1950, sau khi chiến dịch Biên Giới thắng lợi, để động viên tinh thần chiến sĩ, Hồ Chủ Tịch ra lệnh mua lúa khao quân. Chi bộ và nhân dân Hoằng Phong lại hăng hái hưởng ứng chủ trương này. Kết quả thu được 545 tạ thóc.

Năm 1951, sau khi Chính phủ ban hành chính sách thuế nông nghiệp bằng thóc, đảm bảo sự đóng góp công bằng cua mọi đối tượng về sở hữu ruộng đất, nên có phần lũy tiến về thuế, gây sự sáo trộn trong nhân dân. Bởi vậy Chi bộ đã tổ chức quần chúng nhiều đợt học tập, thảo luận, quán triệt chủ trương của Đảng đến từng đối tượng. Sau đó tiến hành kê khai, phân mảnh, xếp hạng định sản lượng, nhiều cuộc họp căng thẳng diễn ra. Song nhờ có lực lượng đảng viên trung kiên tiến bộ ở các thôn xóm, trực tiếp theo dõi chỉ đạo nên đã ổn định được tình hình. Nhân dân hăng hái tự giác làm nghĩa vụ với Nhà nước.

Kết quả năm 1951 thu được 240 tấn thóc, năm 1952 thu dược 263 tấn thóc.

Trong những năm 1950 đến 1952, tình hình an ninh chính trị trên địa bàn xã hết sức căng thẳng. Tháng 4- 1951, tàu chiến địch bắn đại bác, pháo sáng vào địa bàn xã nhà và các xã lân cận. Đặc biệt tổ chức phản động đại diện là Tuệ Quang, Tuệ Chiếu, Lường Mạnh Huân về địa phương lôi kéo những phần tử bất mãn, một số quần chúng lẫn tránh việc đóng thuế nông nghiệp, dân công,...Nhằm chống phá, xuyên tạc đường lối chủ trương của Đảng. Tháng 4- 1951, dựa vào cha con Bát Tích bọn chúng tổ chức một cuộc khai mạc thành lập “Hội phật tử” tại Đình Hội Triều. Lực lượng dân quân du kích trong xã đã bao vây, bắt Lường Mạnh Huân còn Tuệ Quang, Tuệ Chiếu bỏ chạy.

Tiếp theo là cuộc đấu tranh chống tổ chức quân chủ lập hiến Thanh niên phật tử tại các thôn Thụy Liên, Hội Triều. Dưới sự chỉ đạo của chi bộ các đoàn thể, tổ chức quần chúng đượcn học tập, nghiên cứu tài liệu và họp đấu tố, phát hiện tham gia bắt giữ bọn phản động giao nộp về huyện, sau đó đưa bọn chúng ra bãi trường (Hoằng Vinh) để cảnh cáo trước quần chúng.

Đây là hai nhiệm vụ điển hình diễn ra trên địa bàn xã song chi bộ đã lãnh đạo nhân dân giành được thắng lợi gây tiếng vang trong tỉnh, làm cho quần chúng ngày càng tin tưởng vào Đảng.

Trong những năm 1950 đến 1952, công tác quốc phòng cũng được chi bộ chú ý. Ngay từ tháng 4- 1950, Chi bộ đã phát động quần chúng tham gia học trường Lục quân, kết quả hai đợt phát động đã có 16 người vào trường. Ngoài ra còn động viên được 37 người vào bộ đội phục vụ các chiến trường.

Công tác phát triển Đảng cũng được chi bộ chú ý quan tâm. Tính đến tháng 10 năm 1952 chi bộ đã có 101 đảng viên.

Tháng 10 – 1952, Chi bộ tiến hành đại hội lần thứ hai tại gia đình ông Nở xóm Nội, thôn Phục Lễ với 101 đảng viên tham dự.

Đại hội tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo nhân dân thực hiện các phong trào thi đua lao động sản xuất, an ninh quốc phòng. Đề ra mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, chi viện các chiến trường, tiếp tục củng cố xây dựng Đảng và các tổ chức quần chúng. Đại hội bầu Ban chấp hành gồm 7 đồng chí, đồng chí Trương Văn Xức thôn Hội Triều tiếp tục giữ chức Bí thư.

Cuối năm 1953, xã Hoằng Phong chia thành hai xã là xã Hoằng Phong và xã Hoằng Lưu (địa giới như ngày nay

Cuối năm 1953 đầu năm 1954 trong phong trào triệt để giảm tô, chuẩn bị cải cách ruộng đất, theo chủ trương của trên, toàn huyện Hoằng Hóa lần lượt được chia thành 47 xã. Trong đó xã Hoằng Phong được tách thành 2 xã là Hoằng Phong và Hoằng Lưu.

Xã Hoằng Lưu ra đời vào tháng 7 năm 1953 gồm 4 thôn là Phượng Ngô, Nghĩa Lập, Phục Lễ, Phú Lễ, đến đầu năm 1954 thôn Khê Xá – Hoằng Đạo tháp nhập vào xã Hoằng Lưu. Từ đây qua gần 60 năm xã Hoằng Lưu ổn định địa giới hành chính đến ngày nay.

 

Nhìn lại 9 năm trường kỳ kháng chiến gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc. Trong đó phần lớn thời gian xã nhà là bộ phận của của xã Hoằng Châu và Hoằng Phong, Hoằng Đạo. Song được sự lãnh đạo của Huyện ủy, sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ Đảng Hoằng Châu, Hoằng Phong, Hoằng Đạo và nhất là sự vận dụng đúng đắn kịp thời các chủ trương chính sách của Đảng ở từng cơ sở mà cả 5 thôn của xã đã phát huy được tính tự lập tự cường, gương mẫu, đoàn kết, thống nhất trong mọi nhiệm vụ cách mạng của Đảng.

Thành tích đáng ghi nhận là việc chấp hành đúng đắn các chủ trương chính sách của Đảng, trong đó Mặt trận Việt Minh sau là mặt trận Liên Việt xứng đáng là mái nhà chung ấm áp của các đoàn thể quần chúng, các tầng lớp nhân dân xã nhà, đã đem đến những thắng lợi to lớn trong sự chi viện sức người sức của cho kháng chiến.

Tổng kết 9 năm đánh đuổi thực dân cướp nước, thành tích nổi bật của xã nhà là nhiệm vụ đóng góp sức người với trên ........ thanh niên nam nữ đi bộ đội, ............ thanh niên xung phong, ..... đợt dân công tiếp vận. Trong đó đã có ....... người hy sinh anh dũng ở chiến trường, ............ người mang nặng một phần thương tích. Bên cạnh sức người, xã nhà cũng kịp thời có mặt trong việc đóng góp nhiều của cải vật chất cho chiến trường gồm ....... chỉ vàng, .....kg đồng, ........ tấn thóc, ........ đồng bạc tài chính1, xứng đáng là đơn vị có truyền thống xây dựng hậu phương kháng chiến của Đảng. Điều hết sức phấn khởi là tuy chiến tranh kéo dài nhưng đời sống của các tầng lớp nhân dân luôn được ổn định và được cải thiện bước đầu. Nền nông nghiệp với năng suất lúa không đầy 3 tấn/ha/năm trước cách mạng đã nâng lên 3,5 tấn/ha/năm trong kháng chiến chống Pháp, góp phần mở mang đời sống trong cách ăn ở của nhân dân và nhất là trình độ dân trí được phát triển với trên 70% số dân được học từ bình dân học vụ trở lên.

xã nhà đã có hàng chục cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, ngành từ huyện đến Trung ương khen thưởng trong đó ............ người được thưởng Huân - Huy chương kháng chiến các hạng, ............... gia đình được thưởng bảng gia đình vẻ vang, Bảng vàng danh dự.

Đó là niềm vinh dự là chiếc cầu nối truyền thống vững chắc cho Đảng bộ và nhân dân xã nhà bước vào thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc, góp phần đấu tranh thống nhất Tổ quốc.

         

Chương IV: ĐẢNG BỘ XÃ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN THỰC HIỆN HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1954-1975).

          I. Đảng bộ lãnh đạo nhân dân khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954-1965).

          1. Khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hoá xã hội thời kỳ 1954-1960.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, với chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến 9 năm của dân tộc ta được kết thúc thắng lợi vẻ vang. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhưng theo hiệp định thì đất nước ta chia làm 2 miền. Miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc chính thể nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền ngụy do Ngô Đình Diệm đứng đầu. Sau 2 năm, hai miền sẽ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Trước bối cảnh lịch sử mới, miền Bắc hòa bình nhưng miền Nam còn trong sự kìm kẹp với âm mưu địch chia cắt lâu dài đất nước ta, Đảng ta kịp thời đề ra hai nhiệm vụ chiến lược lúc này cho cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước. Hai nhiệm vụ ấy có liên quan gắn bó hữu cơ chặt chẽ với nhau.

Theo chủ trương của Đảng, sau chiến tranh kết thúc, ở miền Bắc các Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp được đổi tên là Ủy ban hành chính. Mặt trận và các đoàn thể cũng được chuyển sang tên gọi mới như Mặt trận Liên Việt gọi là Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên cứu quốc đổi thành Thanh niên lao động, Hội phụ nữ cứu quốc sát nhập với hội Liên hiệp phụ nữ gọi chung là Hội phụ nữ, Hội nông dân cứu quốc gọi tắt là Nông hội, Hội phụ lão kháng địch gọi là Hội phụ lão, Đội thiếu nhi cứu quốc gọi là thiếu niên tiền phong…

Ở xã nhà trên cơ sở đơn vị hành chính mới là xã Hoằng Lưu đã được thành lập từ tháng 7 năm 1953. Tối ngày 15 tháng 7 năm 1953 tại nhà ông Lê Văn  Mậu thôn Phục Lễ, đại hội đầu tiên của đảng bộ được tiến hành với 33 đồng chí, đại hội đã bầu đồng chí  Lê Văn Doãn làm Bí thư, đã nhanh chóng lãnh đạo nhân dân đi vào thời kỳ mới.

- Tháng 7 năm 1954, sau một năm tách xã qua bầu cử Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính xã Hoằng Lưu được thành lập, ông Lê Ngọc Bờn được bầu làm chủ tịch. Từ đây dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của chi bộ và chính quyền xã, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân xã nhà nhanh chóng tập trung sức vào công việc xây dựng lại quê hương và làm nghĩa vụ đất nước ngày một tăng cường.

* Hàn gắn vết thương chiến tranh.

          Trong 9 năm kháng chiến, để bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân và chống giặc đánh chiếm, các thôn trong xã đã thực hiện đào đắp hàng chục nghìn khối đất làm giao thông hào, hầm trú ẩn, hầm bí mật, ụ, luỹ cản xe cơ giới địch. Sau hoà bình lập lại, toàn xã đã huy động một lực lượng lớn lao động với trên 1000 ngày công thực hiện trong 1 tháng, kịp thời san lấp hầm hố, chướng ngại vật trong chiến tranh, đồng thời giúp đỡ nhau sửa lại nhà cửa bị hư hỏng, san ghềnh lấp trũng, khai hoang hoá, giải phóng trên ....... ha diện tích đất trống đưa vào sản xuất. Một số trục đường liên thôn, liên xóm cũng được mở rộng 3 – 4m thuận tiện giao thông trong làng xã và đồng ruộng.

Với tinh thần chủ động, tự lập tự cường, những kết quả đầu tiên trên đã làm khởi sắc bộ mặt nông thôn.

Cũng vào thời điểm trên, cuộc đón tiếp cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc theo hiệp định Giơ-ne-vơ, được tiến hành khẩn trương, chu đáo. Toàn xã đã quyên góp vật phẩm quà bánh mang đến chợ Quăng (xã Hoằng Lộc), nơi đón tiếp của Huyện, để ủng hộ, thăm hỏi và nhận đỡ đầu thương binh miền Nam về địa phương sinh hoạt cho đến ngày Bắc – Nam thống nhất mới trở lại quê hương.

* Thực hiện cải cách ruộng đất (CCRĐ) và khôi phục phát triển kinh tế:

Năm 1954, thi hành chủ trương của Đảng, cuộc CCRĐ được triển khai rầm rộ ở xã nhà. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, các tầng lớp nhân dân được học tập quán triệt mục đích ý nghĩa về cuộc cách mạng điền địa này một cách sâu rộng, mạnh mẽ trong xã. Được phát động, giai cấp nông dân xã đã đồng loạt vùng lên đánh đổ giai cấp địa chủ cường hào ác bá, phản động và chỉ trong 3 tháng đã đạt được thắng lợi to lớn. Toàn xã đã tịch thu của địa chủ cường hào 150 mẫu đất, hàng trăm trâu bò, nhiều gian nhà ngói, cùng nhiều tài sản khác chia cho các hộ bần cố nông.

Cải cách ruộng đất thành công, xoá bỏ được giai cấp bóc lột, thực hiện được khẩu hiệu “người cày có ruộng” và nâng cao vị thế chính trị của nông dân nhất là bần cố nông.

Bởi vậy, sau CCRĐ khí thế cách mạng của quần chúng dấy lên mạnh mẽ. Chi bộ đã lãnh đạo các đoàn thể đi sâu vào củng cố tổ chức, sinh hoạt đều đặn, khối đoàn kết công nông liên minh ngày càng chặt chẽ thống nhất, ra sức thi đua, tương trợ lẫn nhau trong đời sống và sản xuất.

Năm 1955, một nạn hạn hán kéo dài trên diện rộng, toàn huyện mùa màng thu hoạch bị sút kém nghiêm trọng, nạn đói diễn ra ảnh hưởng không nhỏ đến hàng loạt cộng đồng dân cư. Song, thành quả CCRĐ đã kịp thời giải quyết đời sống cho hàng trăm gia đình trong xã bước ra khỏi hiểm hoạ đói kém. Đồng thời, được Huyện uỷ lãnh đạo sát sao, chi bộ Đảng và các đoàn thể xã nhà đã nêu cao tinh thần quyết tâm chỉ đạo nhiệm vụ cần kíp lúc này là khâu lương thực dưới nhiều hình thức quyên góp tương trợ. Tình hình trên đặt ra cho chi bộ và nhân dân Hoằng Lưu một nhiệm vụ hết sức nặng nề và khẩn trương. Trước hết giải quyết vấn đề lương thực là khâu cơ bản nhất, đồng thời đề ra những biện pháp chủ yếu như phát động quần chúng đào giếng, khơi mương đắp bờ giữ nước, bồi trúc đê điều, thực hiện khẩu hiệu "Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa" và đẩy mạnh các hoạt động như: Phân bón, chăn nuôi tăng nhanh đàn lợn gia đình, tận dụng các nguồn phân bón: Phân xanh, cải tiến các công cụ sản xuất nông nghiệp như: "Cày 51 lúa tốt, khoai nhiều". Đảng bộ xã còn động viên nhân dân đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn. Qua một thời gian phát động vào cuối 1955, toàn xã đã thu được trên ............... kg gạo, ngô, khoai sắn và hơn 1 vạn bạc, kịp ủng hộ các gia đình đang đứng trước nguy cơ thiếu đói trầm trọng [12].

CCRĐ đạt kết quả như trên nhưng đã vấp phải một số sai lầm khuyết điểm do cách chỉ đạo vận dụng đường lối chính sách của Đảng ở địa phương. Khuyết điểm lớn nhất là việc qui sai thành phần của nhiều gia đình khá giả, từ trung nông, phú nông qui lên địa chủ.

Cuối năm 1955 được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng phát hiện, công tác sửa sai trong CCRĐ được tiến hành khẩn trương, rà soát lại tiêu chuẩn và đề ra chủ trương sửa sai một cách kịp thời, thẳng thắn.

Cũng như các xã khác trong huyện, tại xã nhà vào đầu năm 1956 qua một thời gian ngắn, được sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ, chi bộ Đảng xã và các tầng lớp nhân dân đã đoàn kết một lòng thi hành chính sách sửa sai có kết quả. Số gia đình địa chủ bị qui sai đã được hạ thành phần, trả lại ruộng đất, tài sản đều tỏ thái độ đúng đắn trước nhân dân.

Một số cán bộ, đảng viên bị xử trí oan trong CCRĐ cũng nhanh chóng được phục hồi đảng tịch, phục hồi chức vụ công tác và thể hiện được thái độ xây dựng tích cực, gương mẫu trước quần chúng. Nhờ vậy sự thống nhất trong chi bộ được đề cao. Có thể nói, trên cơ sở kết quả đúng đắn của chính sách sửa sai trong CCRĐ, khối đoàn kết nông thôn càng được củng cố, thắng lợi CCRĐ càng được khẳng định; vai trò lãnh đạo của Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng càng được tăng cường mạnh mẽ.

Đầu năm 1957, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hoằng Lưu bắt đầu xây dựng các tổ đổi công nhằm mục đích tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn.

          Bước đầu các tổ đổi công đã thu được nhiều thắng lợi, trong toàn xã có 18 tổ đổi công đã thu hút được 95% hộ nông dân với tổng số diện tích 640 mẫu, vào tập thể 96% số ruộng đất canh tác trong toàn xã. Hình thức đổi công gọn nhẹ, tự giác nên đã thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất nhanh chóng.

* Về xây dựng các loại hình Hợp tác xã (1958 – 1960).

+ Hợp tác xã ( HTX) nông nghiệp bậc thấp, qui mô xóm, thôn.

Bước vào năm 1958, thực hiện chủ trương của Đảng về cải tạo nền kinh tế cá thể thành tập thể XHCN, Chi bộ Đảng xã nhà đã kịp thời lãnh đạo chỉ đạo đưa chủ trương này đi vào cuộc sống. Chính quyền, các đoàn thể quần chúng dưới sự lãnh đạo của chi bộ đã được tham gia học tập thấm nhuần cuộc vận động xây dựng Hợp tác hoá nông nghiệp.

Mùa xuân năm 1958, mở đầu cuộc học tập về bước quá độ xây dựng CNXH được diễn ra rộng khắp các cơ sở, trong hầu hết các tầng lớp nhân dân. Cuộc học tập đặt dưới sự chỉ đạo cụ thể của từng tổ đảng ở từng thôn xóm đã thu hút đông đảo nông hộ tham gia.

Qua học tập, giai cấp nông dân đã thấy rõ phương thức làm ăn tập thể lúc này là yêu cầu cần thiết để xoá bỏ triệt để chế độ người bóc lột người. Bởi đó là hình thức xóa bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất một cách có hiệu quả. Trên cơ sở đó, đại đa số quần chúng nông dân tin tưởng vào đường lối của Đảng, trở nên phấn chấn và sẵn sàng gia nhập HTX.

Đến tháng 3 năm 1959 Hợp tác xã nông nghiệp xóm đầu tiên được thành lập do ông Lương Kỳ Tơn làm chủ nhiệm bao gồm 29 hộ, 62 khẩu, tư liệu sản xuất đã được tập trung, bước đầu được sản xuất có kế hoạch nhiệp nhàng, cân đối. Đây là cơ sở đầu tiên để phát động phong trào phát triển các hợp tác xã quy mô xóm sau này. Sau một thời gian toàn xã đã có 18 HTX quy mô xóm ra đời, qua một số vụ làm ăn khấm khá, năng suất lúa đạt trên 3,5 tấn/ha, cá biệt có vụ đạt 4 tấn/ha nên đã có sức thuyết phục nông dân về tính ưu việt của HTX.

Các HTX qui mô bậc thấp ra đời tập trung sức vào công tác thuỷ lợi, làm phân bón, thúc đẩy mạnh mẽ yêu cầu “ Nước – phân – cần – giống” để tăng năng suất cây trồng.

Toàn xã có 50% diện tích đồng ruộng đảm bảo có nước tưới tiêu bởi có thêm kênh mương được đào đắp. Diện tích vụ chiêm được mở rộng. Các cánh đồng do bước đầu được san mô, lấp cõi, qui hoạch vuông ruộng, thẳng bờ nên đã làm tăng thêm nhiều diện tích canh tác.

Riêng khâu cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất lao động, thu hoạch, đến thời kỳ này được đặt ra tích cực. Các HTX đã thực hiện chọn, ngâm ủ giống, làm phân bón và sử dụng các nông cụ cải tiến như cày 5 - 1 (tức cày nhà máy 1 tháng 5 ở TQ sản xuất), thay cho cày chìa vôi, các loại xe trâu bò, xe cải tiến, xe thồ thay cho gánh bộ vừa năng suất, vừa được giải phóng đôi vai.

Thành quả trong 3 năm xây dựng HTX qui mô bậc thấp xóm thôn, đã mang lại sự phấn chấn trong nông dân nhất là lớp dân nghèo. Mô hình HTX bước đầu có sức thuyết phục rộng rãi ở nông thôn, liên kết mọi nhà gắn bó với HTX.

+ Hợp tác xã tín dụng: Tiền thân là HTX vay mượn được ra đời từ 1956 nhằm tương trợ sản xuất và đời sống nhân dân lúc đột xuất... Đến năm 1958 HTX vay mượn được lập thành HTX tín dụng với số lượng xã viên buổi đầu có 250 người với 300 khẩu phần, mỗi xã viên đóng góp lúc này là 5 đồng bạc ngân hàng (tức bạc tài chính được đổi sang bạc ngân hàng vào 1958).

Chủ nhiệm HTX tín dụng từ 1958 đến 1960 là ông Nguyễn Văn Cay. Số vồn huy động trong thời gian này được 4.200 đồng tiền ngân hàng. Có nhiều cán bộ thoát ly cũng đã gửi tiền đóng cổ phần HTX tín dụng.

HTX tín dụng đã tranh thủ được nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, hàng năm đã giúp đỡ các HTX nông nghiệp xây dựng cơ sở vật chất sản xuất và kịp thời đáp ứng các yêu cầu của nhân dân mua sắm, tiêu dùng trong sản xuất và đời sống, hạn chế phần căn bản vay nợ lãi trong dân cư.

+ Hợp tác xã mua bán: Ở thời kỳ này HTX mua bán chưa được thành lập, một số cơ sở mua bán của huyện về địa phương làm nhiệm vụ phục vụ nhân dân, ổn định giá cả thị trường.

 .

Có thể nói, 3 năm (1958 – 1960) cải tạo XHCN nền kinh tế cá thể, “3 ngọn cờ hồng” ở nông thôn lúc này là HTX nông nghiệp, HTX tín dụng, HTX mua bán như chủ trương của Đảng đề ra, đã nhanh chóng ra đời góp phần đưa nhân dân xã nhà đi lên con đường xây

 * Công tác văn hoá xã hội: giáo dục, y tế, thông tin tuyên truyền, văn nghệ, thể dục thể thao……………..

* Ngành giáo dục phổ thông:

Do sĩ số học sinh trong kháng chiến ngày một phát triển, trường phổ thông cấp I đến hoà bình lập lại ở miền Bắc trường đã có 4 khối lớp (1,2,3,4) đặt tại các thôn, trong nhà dân, đến năm 1958 thì trường chuyển ra cơ sở mới ở .............. nơi trung tâm xã. Trường gồm ..... phòng học đủ chỗ cho con em  học 2 buổi trong ngày. Trường có văn phòng làm việc và nơi ở tập thể của hội đồng giáo viên, có vườn cây cảnh, sinh thái thoáng mát.

Số lượng học sinh ngày một phát triển. Đến năm học 1959 – 1960 thì sĩ số học sinh có .......... em.  Số giáo viên hàng năm cũng có trên 10 người.

Hiệu trưởng trường PT cấp I lần lượt từ 1954 - 1965 gồm các thầy giáo: ...................Hàng năm, trường đều có tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp PT cấp I đạt khá. .

* Phong trào BDHV và Bổ túc văn hoá.

Từ năm 1954 đến năm 1958, trưởng ban BDHV xã lần lượt gồm:........

Các lớp BDHV vẫn được duy trì đều đặn ở các thôn. Năm 1959 công tác phổ cập xoá nạn mù chữ hoàn thành, dẫn đầu phong trào diệt giặc dốt toàn Miền bắc được Ban liên lạc Nông dân và Chính phủ tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba.

Năm học 1959 - 1960, cùng với sự phát triển giáo dục dân lập, Bộ giáo dục đề ra chủ trương “ Một hội đồng hai nhiệm vụ” tức vừa giảng dạy PT vừa giảng dạy Bổ túc văn hoá.

Quán triệt chủ trương trên, đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ xã, công tác BTVH xã nhà được đẩy mạnh thành phong trào sôi động trong xã. Xã thành lập ban BTVH do ông ……….. làm trưởng ban từ 1958 đến 1960 gồm:

Từ 1958 đến 1960 mỗi năm, toàn xã có ….. lớp BTVH cấp I khoảng …….. học viên hầu hết là cán bộ nòng cốt xã học và tốt nghiệp chương trình phổ thông cấp I.

* Phong trào vỡ lòng và nhà trẻ:

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, xã nhà đã  có 1 số lớp vỡ lòng thu hút con em đến tuổi đi học, được đặt tại các cụm dân cư thuộc các thôn xóm. Các lớp học đều do nhân dân chủ động tổ chức, đóng góp thông qua sự chỉ đạo của các thôn trưởng, các đoàn thể quần chúng địa phương.

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, từ cuối năm 1954, phong trào vỡ lòng vẫn được duy trì theo hình thức trên. Năm 1959, khi có phong trào HTX ra đời thì công tác vỡ lòng được tổ chức theo nền nếp quản lý của HTX. Lúc này do nhu cầu đảm bảo ngày công lao động của xã viên, nhất là việc giải phóng phụ nữ, bên cạnh việc giáo dục vỡ lòng, các HTX đã quan tâm đến việc tổ chức các nhà trẻ. Tại 5 thôn trong xã đều có các lớp vỡ lòng và nhà trẻ đặt trong nhà dân, sau có lớp đặt ở lán tre nứa do nhân dân xây dựng.

Các lớp vỡ lòng lúc này đa phần có độ tuổi từ 7 đến 8 tuổi, biết đọc, biết viết mới được tuyển vào học lớp 1 phổ thông. Nhà trẻ thì hầu hết đều từ 6 tháng tuổi đến 5 tuổi. Đáng quan tâm là ở thời kỳ này, các HTX đầu tư 100% chế độ ăn cho các cháu nhà trẻ tập trung trong ngày. Đồng thời từ vỡ lòng đến nhà trẻ, các HTX đều chi phí thù lao cho giáo viên bằng công điểm HTX. Quân bình 6 tháng một lần theo mức ăn chia của HTX, mỗi cô giáo được hỗ trợ mức lương thực qui thóc bằng …………kg. Thù lao thật là ít ỏi, nhưng với ý thức chăm sóc tương lai, yêu mến trẻ, đội ngũ giáo viên vỡ lòng và cô nuôi dạy trẻ xã nhà đã không quản mọi khó khăn về vật chất cũng như tinh thần, hàng năm đã giáo dưỡng được trên dưới 200 con em nhân dân ở tuổi ấu thơ, bước vào lớp học và ngày càng được học lên trong sự quan tâm ưu ái của Đảng và Nhà nước.

Phụ trách vỡ lòng và nhà trẻ ở thời kỳ 1954 – 1960 của xã là bà ……………..Với nhiệt tình yêu nghề, yêu trẻ bà đã phấn đấu liên tục gắn bó với tuổi ấu thơ của địa phương được nhân dân hết sức tín nhiệm.

* Phong trào y tế:

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, năm 1954, Ban y tế xã thành lập do ông …………. làm Trưởng ban. Đến năm 1958 khi có chủ trương xây dựng trạm y tế dân lập thì trưởng trạm xã nhà lần lượt từ 1958 đến 1960 do các ông:………………………………………….

Trạm lúc mới thành lập có ………….. người trong đó ngoài trưởng trạm là y sĩ, con số còn lại gồm 1 nhân viên điều trị, kiêm bán thuốc và 1 nữ hộ sinh được huấn luyện chuyên môn ở trình độ y tá tại huyện và tỉnh. Buổi đầu trạm xây dựng theo nhà cấp 4 ở ………….. gồm ………. phòng trong đó 1 phòng điều trị, có …….. giường bệnh, 1 giường sản và 1 phòng trực vừa bán thuốc, vừa làm việc của nhân viên cũng như lãnh đạo trạm.

Điều phấn khởi là từ khi trạm y tế ra đời, công tác phòng chữa bệnh trong nhân dân được tổ chức chặt chẽ thống nhất.

Hầu hết bệnh nhân đều được đưa tới trạm sơ cứu kịp thời và nhiều bệnh được điều trị tại chỗ có hiệu quả, giảm tốn kém cho nhân dân phải đi lên tuyến trên.

Trạm cũng đã vươn lên giải quyết được một số bệnh xã hội như đau mắt hột và tiêm chủng định kỳ phòng chống các bệnh dịch như tả lỵ, thương hàn, sởi, đậu... cho mọi tầng lớp nhân dân nhất là trẻ em và sản phụ. Việc khám thai cho chị em đang ở độ tuổi sinh đẻ cũng được tiến hành thường xuyên góp phần hạn chế những rủi ro đáng tiếc.

.

Hội Đông y xã được thành lập từ năm 195......... do ............ làm hội trưởng

Hội đã tập hợp số lương y có kinh nghiệm về làm công tác trực ở trạm y tế. Tủ thuốc Đông y được bào chế từ vườn dược liệu được xây dựng với nửa ha diện tích trồng nhiều cây thuốc Nam có giá trị chữa nhiều bệnh thông thường trong nhân dân. Nhất là các môn thuốc gia truyền của xã có từ xa xưa được phát huy vào thời kỳ mới càng có sức cổ vũ việc kết hợp điều trị Đông – Tây y của trạm y tế xã nhà.

* Về công tác thông tin tuyên truyền và hoạt động văn hoá quần chúng:

Từ giữa năm 1954, lập lại Hoà bình ở miền Bắc công tác tuyên truyền được tập trung vào 2 nhiệm vụ chiến lược của Đảng lúc này là xây dựng CNXH ở miền Bắc và thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền .

Công tác thông tin xã đi sâu vào việc tuyên truyền, động viên cổ vũ quần chúng tham gia khôi phục, cải tạo XHCN nền kinh tế từ sở hữu cá thể sang sở hữu tập thể với việc thực hiện “ ba ngọn cờ hồng” ở nông thôn.

          + Công tác quốc phòng: Từ 1956 đến 1965, thi hành luật nghĩa vụ quân sự của Chính phủ, xã nhà hàng năm đã động viên gần 100 con em đến tuổi tham gia làm nghĩa vụ quân sự, xây dựng  quân đội  thường trực chính quy hiện đại. Hầu hết đã làm tròn nhiệm vụ trở về địa phương.

- Lực lượng dân quân xã: luôn được tăng cường củng cố. Trong hoà bình dân quân du kích được đổi thành dân quân. Tháng ………/1956, Ban dân quân xã thành lập, được gọi là Ban xã đội.

Từ 1956 đến 1960, Ban chỉ huy xã đội lần lượt gồm các đồng chí phụ trách……..

Ban chỉ huy xã đội ra đời trong thời bình, tăng cường việc huấn luyện chính trị và quân sự cho dân quân.

Việc huấn luyện chính trị lúc này chủ yếu là học tập nâng cao nhận thức về hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng về xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà. Hai nhiệm vụ ấy có liên quan chặt chẽ với nhau.

Việc huấn luyện quân sự được tập trung vào huấn luyện sử dụng vũ khí mới như súng trường CKC, lựu đạn mỏ vịt.

Từ năm 1956 trở đi, số lượng dân quân xã hàng năm có quân bình trên dưới ............ người, được biên chế thành các trung đội ở các HTX, do HTX đảm nhiệm việc hậu cần, tập luyện.

Việc tuần tra canh gác bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, của HTX được tiến hành thường xuyên có nền nếp.

          * Công tác xây dựng, củng cố hệ thống chính trị :

          Lưu ý : Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân

Nêu các kỳ đại hội từ năm 1954 – nay. Ai làm Bí thư...........

Các Kỳ ầu cử HĐND, Ai làm Chủ tịch UBND.................

Trưởng các đoàn thể, các nhà trường qua các thời kỳ.......

Nêu cụ thể hơn về Hợp tác xã................

..........,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,

 

 

          2. Hoằng Lưu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Điểm lại trong quá trình xây dựng HTX nông nghiệp tháng 8 năm 1960, đại hội huyện Đảng bộ lần thứ 6 đã đánh giá rõ thắng lợi trong những năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế, văn hoá và đề ra nhiệm vụ, phương hướng căn cứ vào nghị quyết của Đảng bộ cấp trên. Tháng ….năm 196…Đại hội Đảng bộ đã có nghị quyết cụ thể là trước mắt phát huy thắng lợi rực rỡ của những năm qua mà Đảng bộ và nhân dân Hoằng Lưu chúng ta đã giành được.

          Nhiệm vụ cần thiết trước mắt là tập trung lực lượng cũng cố Hợp tác xã đưa sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề phụ tiến lên một bước mới, nhằm bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp.

          Đại hội Đảng bộ xã nhà còn có phương hướng cụ thể là: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, đặc biệt tăng cường công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, nâng cao hơn nữa ý chí chiến đấu của cán bộ, đảng viên, cải tiến phương pháp, lề lối làm việc.

Bước sang năng 1961 năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Hoằng Lưu đã tiến quân mạnh mẽ vào 3 cuộc cách mạng ở nông thôn mà nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 đã chỉ rõ.

          Đầu năm 1961, Hoằng Lưu đã căn bản hoàn thành việc xây dựng các HTX nông nghiệp dưới cơ sở các xóm và đội.

          Đến cuối năm 1962, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân ta lại hào hứng phấn khởi, sẵn sàng đi theo Đảng, theo con đường làm ăn tập thể, từ 18 HTX nông nghiệp nhỏ nay tiến hành củng cố và tổ chức thành 4 hợp tác xã với quy mô thôn.

          HTX Nông nghiệp Phượng Khê do ………..làm chủ nhiệm

          HTX Nông nghiệp Phượng Ngô do ………..làm chủ nhiệm

          HTX Nông nghiệp Nghĩa Phú do ………..làm chủ nhiệm

HTX Nông nghiệp  Phục Lễ do ………..làm chủ nhiệm

Có hay không HTX Phượng Khê?

Các hợp tác xã bước đầu được tổ chức quy mô, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân phấn khởi, cán bộ lãnh đạo có trách nhiệm và có kế hoạch cụ thể trong xây dựng và phát triển HTX. Mọi công việc đã đi vào nề nếp, tư liệu sản xuất, trâu, bò, sức kéo cũng như đồng ruộng, sản phẩm và lao động được quản lý và phân phối chu đáo bước đầu đời sống nhân dân được nâng lên. Như vậy đến năm 1961 bước vào thực hiện kế  hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất, nhân dân trong xã cơ bản đã có môt phương thức làm ăn mới và đời sống tương đối ổn định nên phong trào xây dựng HTX càng được đẩy mạnh.

Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, tháng ...... năm 1962, Đảng bộ xã được tổ chức, đại hội tổng kết thực hiện công cuộc cải tạo XHCN nên kinh tế mới, xây dựng HTX và chỉ ra những tồn tại về trình độ quản lý HTX, tàn dư tư tưởng bảo thủ lạc hậu, tư lợi trong cán bộ, đảng viên và đề ra nghị quyết của thời kỳ 1963 - 1965 là:

- Cải tiến quản lý HTX, xây dựng phát triển HTX qui mô thôn, liên thôn thông qua việc tiến hành 3 cuộc cách mạng mới ở nông thôn là cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thụât, cách mạng tư tưởng văn hoá trong đó cách mạng KHKT là then chốt như chủ trương của Đảng đề ra.

Sau đại hội Đảng bộ thành công, BCH Đảng bộ đã đi sâu vào công tác giáo dục chính trị nhằm nâng cao nhận thức về 3 cuộc cách mạng ở nông thôn, xây dựng con người mới XHCN trong mọi tầng lớp nhân dân.

Trên cơ sở ấy, công tác cải tiến quản lý HTX được tiến hành.

Toàn xã lúc này với 4 HTX có khoảng 90% dân số tham gia với quy mô bậc thấp xóm, liên xóm theo hình thức sở hữu tập thể hoá ruộng đất, trâu bò, nông cụ, vườn cây, ao cá. Các cơ sở vật chất của HTX được củng cố một bước như xây dựng tập trung các nhà kho, sân phơi và mua sắm mới các máy thuỷ lợi, máy tuốt lúa...Phương thức phân phối lợi nhuận trong HTX thực hiện theo ngày công lao động và giá trị đóng góp ruộng đất, trâu bò, nông cụ...

Song giữa lúc phong trào đang được phát triển tích cực thì thiên tai diễn ra. Hai cơn bão cấp 12 – 13 và lụt lớn hoành hành liên tiếp vào cuối năm 1963 làm hầu hết diện tích vụ mùa bị ngập úng, không có thu hoạch. Đời sống quần chúng gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng. Mặt khác, khi HTX phát triển thì cũng là lúc trình độ cán bộ thể hiện sự bất cập trước phong trào, nhất là việc quản lý, điều hành kế hoạch lao động, ăn chia phân phối...

Tình hình trên dẫn đến sự dao động tư tưởng trong một bộ phận xã viên. Có trường hợp xin ra khỏi HTX. Cũng có người đeo đẳng với HTX nhưng “chân ngoài dài hơn chân trong”. Diễn biến này cũng là diễn biến chung của nhiều nơi trong huyện. Trước những biểu hiện như trên, dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, Đảng bộ đã tăng cường việc chỉ đạo sát sao công tác giáo dục tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Nhiều tài liệu của Tỉnh uỷ như “Lửa thử vàng, gian nan thử sức” hoặc “Chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo” được triển khai học tập đến mọi HTX. Các cuộc sinh hoạt chính trị đấu tranh tư tưởng “ai thắng ai”  giữa 2 con đường XHCN và TBCN nhằm kiên định lập trường xây dựng CNXH được đẩy mạnh trong các tổ chức Đảng và quần chúng. Trên cơ sở đó, công tác cải tiến quản lý HTX được đặt ra tích cực khẩn trương, đến cuối năm 1963 việc quản lý HTX đi vào quĩ đạo mới. Qua một thời gian ngắn hoạt động, các khâu cải tiến được đi sâu vào việc quản lý lao động và ăn chia phân phối là chính.

Trong quản lý lao động việc phân công chuyên môn hoá được tổ chức chặt chẽ. Mỗi HTX đều lập ra các đội chuyên như đội làm thủy lợi 202 (theo Chỉ thị 202 của trên nên thường gọi là đội 202); Đội làm phân bón; Đội làm giống; Đội chăn nuôi; Đội sơn tràng và Đội làm nghề phụ: gạch ngói, xây dựng...

Nhằm đẩy mạnh thực hiện cuộc cách mạng KHKT, các HTX đã chọn cử một số thanh niên có trình độ tốt nghiệp phổ thông cấp 2 đi học tập trung các lớp chuyên môn sơ cấp về trồng trọt, chăn nuôi. Một số giống lúa mới lai tạo có năng suất cao lúc này gọi là lúa X1 được du nhập thay thế bộ giống cũ. Khâu ngâm giống cũng được tiến hành với công thức “ba sôi hai lạnh” đảm bảo việc nẩy mầm và chống sâu bệnh.

Đội thuỷ lợi 202 thành lập ở mỗi HTX có ......... đến ......... lao động chuyên làm công tác sửa chữa, nâng cấp kênh mương và bước đầu kết hợp đào đắp  thủy lợi với xây dựng hệ thống giao thông trên đồng ruộng đáp ứng  yêu cầu vận chuyển  bằng các loại xe cải tiến, xe trâu, xe thồ...

Đội làm phân tăng cường trồng cây điền thanh ủ phân xanh và thu gom phân chuồng đảm bảo lượng phân cho thâm canh đồng ruộng.

Đội chăn nuôi lo phát triển giống lợn lai, quản lý chuồng trại nuôi tập thể và chăn nuôi gia công. Riêng đàn trâu bò được nuôi theo hộ xã viên, lấy công điểm.

Trong quá trình cải tiến quản lý HTX, nhiều phong trào thi đua được phát động sôi nổi, rầm rộ trong giai cấp nông dân nhất là phong trào học tập gương sản xuất điển hình tiên tiến của HTX nông nghiệp Đại Phong tỉnh Quảng Bình, lá cờ đầu xây dựng HTX Nông nghiệp miền Bắc lúc này. Khẩu hiệu “Trai – gái Đại Phong” được biến thành phong trào thi đua rộng rãi trong nông dân nổi bật là trong đoàn TNLĐ và Hội phụ nữ xã. Từ đó việc thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, chăm sóc đồng ruộng, mở rộng hệ số gieo trồng được phát động mạnh mẽ trong các HTX.

Nhờ vậy, qua 3 năm cải tiến quản lý HTX từ cuối năm 1963 đến năm 1965 sản xuất nông nghiệp trong các HTX đã có những hiệu quả rõ rệt.

Công tác thuỷ lợi đã làm tăng thêm diện tích trồng trọt hàng năm của xã từ ...... ha năm 1960 lên .......... ha năm 1965. Trên cơ sở đó, tổng sản lượng lương thực qui thóc bình quân năm thời kỳ 1961 - 1965, toàn xã đạt .......... tấn/năm với năng suất lúa cả 2 vụ trong năm đạt bình quân gần 4 tấn/ha/năm. Đàn lợn, trâu, bò, gà, vịt tăng lên đáng. Mức lương thực ăn chia phân phối trong các gia đình xã viên đạt ........kg/qui thóc/nhân khẩu.

Các ngành nghề thủ công thời kỳ này, chưa lập thành HTX mà hoạt động chủ yếu theo kế hoạch HTX nông nghiệp do các đội chuyên phụ trách, trong đó nổi bật là đội làm gạch ngói, hàng năm cũng đã sản xuất hàng triệu viên gạch ngói, cung cấp cho HTX nông nghiệp xây dựng cơ sở vật chất và các hộ gia đình xã viên xây dựng nhà cửa, công trình vệ sinh mới...

- Hợp tác xã tín dụng thời kỳ 1961 – 1965, lần lượt do các ông ................làm chủ nhiệm:

Tính đến tháng 12 năm 1965, ta đã có 700 xã viên gần 1000 khẩu phần, tổng số tiền huy động trên 100 ngàn đồng, HTX tín dụng đã góp vốn cho HTX nông nghiệp vay mỗi năm tới 50.000đ, chủ yếu là mua trâu, bò, phân bón, đầu từ cho chăn nuôi và nghề phụ, cho vay vốn để phát triển chăn nuôi gia súc. HTX tín dụng đã góp phần đắc lực, làm cơ sở cho nông nghiệp và các ngành kinh tế khác phát triển .

- Hợp tác xã mua bán :  

Tháng 11 năm 1963, HTX mua bán của xã nhà được thành lập, HTX mua bán là một khu vực kinh tế XHCN rất tích cực làm ổn định giá cả thị trường, HTX mua bán xã nhà lúc mới thành lập do ông Nguyễn Văn Năm làm chủ nhiệm và hình thành cả ban quản lý, người đóng khẩu phần đầu tiên là ông Lương Kế Tái.

          Với 2.800 xã viên đã có 4.316 khẩu phần và đã góp được 6.474 đồng với tổng số vốn hiện có 6.474 đồng cũng đã giải quyết được những nhu cầu yếu phẩm thiết yếu, phục vụ kịp thời đời sống nhân dân như dầu hoả, muối, vải, giấy và một số mặt hàng khác.

          Đời sống nhân dân được nâng lên, đòi hỏi mặt hàng mỗi ngày càng phải nhiều hơn, Đo đó, cửa hàng đã tích cực vận động nhân dân đóng góp khẩu phần.

          Tính đến cuối năm 1965, số xã viên tham gia đã lên tới 25.600 đồng và đã góp được 890 khẩu phần, đưa lãi suất lên tới 267 đồng.

          Ngoài việc cung cấp hàng hoá cần thiết phục vụ  nhân dân, hợp tác xã mua bán còn tiến hành mua bán thu mua các loại nông sản của địa phương bán cho nhà nước như: Lạc, đậu, vừng, dừa, bầu bí, đồng thời còn tăng thêm thu nhập cho cửa hàng. Phát huy được tính tích cực của HTX mua bán và thể hiện được tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Trong lúc ngày mùa bận rộn, cửa hàng còn cử nhân viên đem hàng hoá xuống tận cơ sở phục vụ nhân dân như: Nước mắm, chè, bánh kẹo, làm giảm bớt thời gian đi lại của nhân dân.

Như vậy đến kết thúc kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965), “ba ngọn cờ hồng” ở nông thôn xã nhà đã được giương cao một cách đồng bộ, tích cực, thúc đẩy nền kinh tế có kế hoạch của xã chuyển sang bước mới.

* các hoạt động văn hóa xã hội ?

* Về công tác khai hoang định cư xây dựng vùng kinh tế mới:

Một trong ba cuộc vận động lớn thời gian 1962 – 1963, được nêu ra trong nghị quyết hội nghị Đảng bộ tháng ......... năm 196.... là tiến hành cuộc vận động chuyển dịch dân số, định cư khai hoang xây dựng kinh tế mới, nâng cao đời sống nhân dân.

Tháng ... năm 196........, công tác vận động định cư ở miền núi được triển khai khẩn trương trong xã. Đảng Uỷ, Chính quyền, các đoàn thể trong Mặt trận đã tập trung sức tìm đất khai hoang tại các huyện Thanh Kỳ - huyện....., Như Xuân, Thạch Thành, đưa nguyên vật liệu lên làm nhà cửa, đến năm 1963 thì việc di chuyển dân được thực hiện.

Tuy nhiên, bước vào cuộc vận động cách mạng to lớn, sâu sắc này, xã nhà cũng gặp không ít khó khăn trở ngại. Từ quê cha đất tổ, biết bao gắn bó đời đời, không dễ gì một sớm một chiều mà nhân dân có thể dứt áo ra đi. Bởi vậy, công tác tuyên truyền nhận thức về đường lối chính sách của Đảng, giáo dục tư tưởng cán bộ đảng viên về thay đổi cuộc sống đói nghèo ở nông thôn được tiến hành liên tục. Lúc này mỗi HTX đều có 1 – 2 cán bộ, từ cấp uỷ đến đảng viên đã đến từng gia đình vận động tham gia đợt sinh hoạt chính trị xây dựng quê hương mới. Với ý nghĩa khai thác tài nguyên, điều chỉnh dân số, góp phần làm giàu cho gia đình, quê hương, xứ sở, người ra đi không phải chỉ vì mình mà còn vì cả những người thân, anh em, làng xóm. Người ở lại cũng thấy rõ trách nhiệm của mình nên đ㠓chung lưng đấu cật” với người ra đi. Được học tập thấm nhuần sâu sắc, cán bộ đảng viên gương mẫu làm đơn xung phong đinh cư đã có tác dụng phát động phong trào quần chúng. Cuộc vận động triển khai sau một thời gian ngắn toàn xã đã có 29 hộ đã tình nguyện lên đường đi xây dựng vùng kinh tế mới tại các cơ sở mới. Các đoàn thể quần chúng cùng đông đảo bà con thân tộc xóm làng và hết thảy các tầng lớp nhân dân trong xã đã nêu cao tinh thần đoàn kết tương trợ tiền gạo cho mỗi nhân khẩu ra đi có gạo đủ ăn trong 6 tháng đầu và giúp đỡ ngày công sắp xếp vận chuyển đồ đạc, bằng xe cơ giới, đến nơi ở mới. Nhiều đoàn cán bộ HTX, các ngành, các đoàn thể đã lần lượt thay nhau lên quê mới, tổ chức trước nơi ăn ở, phân chia phần đất, dựng nhà cửa để bà con đến nơi tập trung vào canh tác ngay.

Ngày ra đi, Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể nhân dân, các đội thiếu niên cùng đồng bào đã tổ chức việc tiễn đưa chu đáo, thân tình, trìu mến.

Trong vài năm đầu, ngày tết, ngày lễ, địa phương luôn cử người lên thăm hỏi, tặng quà đồng bào định cư. Tình cảm giữa người đi và người ở lại càng thêm gắn bó. Hầu hết những gia đình định cư chỉ qua thời gian từ 1963 – 1965 đã có đời sống khấm khá.

* Về công tác quốc phòng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội:

+ Công tác quốc phòng: Từ 1961 đến 1965, thi hành luật nghĩa vụ quân sự của Chính phủ, xã nhà hàng năm đã động viên ..... con em đến tuổi tham gia làm nghĩa vụ quân sự. Hầu hết đã làm tròn nhiệm vụ mới trở về địa phương.

- Lực lượng dân quân xã: luôn được tăng cường củng cố. Từ 1961 đến 1965, Ban chỉ huy xã đội lần lượt gồm các đồng chí phụ trách..................................

Ban chỉ huy xã đội ra đời trong thời bình, tăng cường việc huấn luyện chính trị và quân sự cho dân quân.

Việc huấn luyện chính trị lúc này chủ yếu là học tập nâng cao nhận thức về hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng về xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà. Hai nhiệm vụ ấy có liên quan chặt chẽ với nhau.

Việc huấn luyện quân sự được tập trung vào huấn luyện sử dụng vũ khí mới như súng trường CKC, lựu đạn mỏ vịt.

Việc tuần tra canh gác bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, của HTX được tiến hành thường xuyên có nền nếp. Tháng 7 năm 1961, đơn vị bộ đội bảo vệ mặt biển tại cồn Thoi Ninh Bình đã bắn rơi chiếc máy bay C47 đầu tiên của Mỹ – Diệm thả gián điệp biệt kích xuống miền Bắc. Sự kiện này càng đòi hỏi tinh thần cảnh giác cao độ của dân quân địa phương. Việc tổ chức các phương án chiến đấu trong dân quân xã nhà ở vị trí trung tâm địa dư huyện gần quốc lộ I được ban chỉ huy huyện đội chỉ đạo càng trở nên mạnh mẽ. Một lực lượng nòng cốt trong dân quân xã được tổ chức tham gia diễn tập bắn đạn thật ở núi Hàm Rồng và được cử đi dự hội thao huyện, hội thao tỉnh, góp phần đẩy mạnh công tác quốc phòng toàn dân.

+ Công tác đấu tranh đòi thực hiện thống nhất nước nhà ở những năm này càng diễn ra sôi nổi. Tháng 7 năm 1963, thực hiện chủ trương của huyện kết nghĩa Hoằng Hoá với huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam trong vùng địch tạm chiếm mới được giải phóng đã dấy lên phong trào “vì miền Nam ruột thịt, mỗi người làm việc bằng hai” như lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lôi cuốn các tầng lớp nhân dân trong xã, các xã viên HTX, các đoàn thể quần chúng đi vào thực thi sản xuất với tiêu chí xây dựng các cánh đồng Điện Bàn, con đường Điện Bàn, trường học Điện Bàn và đến năm 1964, học tập gương anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi thì đoàn Thanh niên lao động xã  nhà đã phát động hàng loạt cuộc học tập, sinh hoạt, làm việc theo tấm gương anh Trỗi. Nhiều cánh đồng, nhiều công trình lại được mang tên cánh đồng Nguyễn Văn Trỗi, công trình Nguyễn Văn Trỗi.

Những phong trào trên thực sự đã làm tiền đề cho công cuộc chống Mỹ cứu nước sục sôi trong những năm chống chiến tranh phá hoại do giặc Mỹ gây ra ở miền Bắc từ 1964 đến 1973.

* Ngành nội chính của xã mà lực lượng công an là nòng cốt

Từ 1961 đến 1965, phụ trách công an xã  do các đồng chí .......đảm nhiệm gồm:

Mạng lưới công an được tổ chức đến các xóm, các đội sản xuất và đã dựa hẳn vào quần chúng để hoạt động có kết quả trong việc đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân, của HTX.

Phối hợp với các ngành chức năng, nêu cao chủ trương làm trong sạch địa bàn, nhất là từ cuối năm 1961, khi Mỹ có âm mưu đánh ra miền Bắc, công an xã thường xuyên phân công lực lượng theo dõi giám sát những phần tử tình nghi vượt biên, vượt tuyến và kịp thời ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực trong thôn xóm, trong HTX. Các hiện tượng mê tín dị đoan, đồng bóng, bói toán, các hành vi cờ bạc gây mất an ninh trật tự nơi công cộng cũng được phòng ngừa và đẩy lùi một cách tích cực.

Nhờ vậy mà trong thời gian hơn 10 năm sau chiến tranh chống Pháp, tình hình an ninh trật tự được đảm bảo, đời sống nhân dân được ổn định đi vào nhiệm vụ xây dựng kinh tế mới và đời sống mới hoà bình hạnh phúc.

IV. VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG CỦNG CỐ BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN VÀ CÁC ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ XÃ.

Trong công tác xây dựng chính quyền thời kỳ này, nhiều người có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thụât thuộc tầng lớp cơ bản bước đầu được bầu vào Uỷ ban hành chính xã.

Từ 1960 đến 1965, trải qua .... khoá bầu cử HĐND xã vào các năm ......, quân bình mỗi khoá có .......... đại biểu được bầu vào HĐND xã.

 Chủ tịch UBHC xã được bầu trong thời kỳ này lần lượt gồm:

............................

          Phó Chủ tịch lần lượt gồm:

................................

Bộ máy chính quyền xã ngày càng được tổ chức ngày một vững chắc với đại đa số quần chúng cơ bản có trình độ và năng lực nhận thức cách mạng, được quan tâm đào tạo về nhiều mặt trở thành lực lượng nòng cốt, triển khai chỉ đạo phong trào cơ sở.

UBHC xã qua các kỳ bầu cử đã kịp thời ra nhiều chỉ thị nghị quyết thực hiện xây dựng nền kinh tế mới như xây dựng HTX cải thiện đời sống nhân dân, làm nghĩa vụ Nhà nước, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, góp phần đấu tranh thống nhất Tổ quốc.

Vai trò các tổ chức quần chúng ngày một nâng cao. Trên cơ sở đường lối cách mạng của Đảng, các đoàn thể nhân dân đi sâu vào nhiệm vụ chính trị của mình trong thời kỳ mới một cách sáng tạo, đồng bộ.

+ Mặt trận Tổ quốc xã từ 1960 đến 1965 lần lượt do các ông phụ trách.

...................................

Mặt trận đã tập hợp đông đảo các giới đồng bào, trong đó nêu cao vai trò đoàn kết các thành phần giai cấp ở địa phương, phát động mạnh mẽ phong trào “cần, kiệm” xây dựng Tổ quốc, thu hút mọi tài năng vật lực cho công cuộc xây dựng HTX địa phương và đóng góp nghĩa vụ Nhà nước.

+ Đoàn Thanh niên lao động xã từ 1960 đến 1965, Bí thư lần lượt do:

.................

Đoàn nêu cao phong trào “Thanh niên xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch Nhà nước” do Trung ương Đoàn đề ra. Với phong trào này , hầu hết Thanh niên xã nhà sẵn sàng tham gia NVQS, đi đầu trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ở HTX, xây dựng có kết quả những điển hình tiên tiến trong phong trào thâm canh tăng năng suất trên những đồng ruộng mang tên Đại Phong, Điện Bàn, Nguyễn Văn Trỗi. Nổi bật là việc nâng cao nhận thức cho thanh niên về con người mới XHCN.

Nhiều đoàn viên ưu tú, qua thử thách đã được đứng vào hàng ngũ Đảng ở thời kỳ này với số lượng quân bình mỗi năm 2 - 3 đoàn viên

+ Hội phụ nữ xã do các đồng chí lần lượt được bầu làm Bí thư ..............................................................................................................

Hội có phong trào “ Phụ nữ 5 tốt” gồm “ đoàn kết sản xuất tốt, học tập chính trị văn hoá khoa học kỹ thuật tốt, chấp hành chính sách tốt, tham gia quản lý Nhà nước tốt, xây dựng gia đình và nuôi dạy con tốt” như chủ trương của Trung ương hội đề ra, đã thu hút đông đảo các tầng lớp phụ nữ vào các cuộc vận động xây dựng HTX sản xuất giỏi, học tập, công tác xã hội, nuôi con khỏe, dạy con ngoan và bước đầu đi vào xây dựng gia đình văn hoá với cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch. Toàn xã thời kỳ này đã có ...................... phụ nữ được bầu vào HĐND các khoá được cử giữ những cương vị chủ chốt của xã, HTX, trong đó có nhiều chị em đã được kết nạp vào Đảng.

+ Hội Nông dân do................................................................

Với phong trào “giương cao 3 ngọn cờ hồng”, Hội nông dân xã đi sâu vào nhiệm vụ chính trị của mình, làm chủ xây dựng, củng cố, cải tiến quản lý HTX với tăng năng suất lao động ngày một cao. Công tác thuỷ lợi, phân bón, chọn lọc giống, cấy dày, cấy thẳng hàng giống mới X1 được phổ biến rộng rãi và tiến hành nhanh mạnh, trở thành phong trào thi đua trong các đơn vị tổ chức hội ở cơ sở. Phong trào sản xuất, tiết kiệm, xây dựng HTX tín dụng, HTX mua bán đã được hội quan tâm triển khai đồng bộ trong giai cấp Nông dân, góp phần làm dấy lên không khí sản xuất vì miền Nam ruột thịt một cách hào hứng sôi nổi trong mỗi gia đình, thôn xóm. Hội cũng đã thường xuyên tổ chức các cuộc vận động thi đua “gia đình sản xuất giỏi” ở các HTX, gia đình có công điểm cao nhất và có sáng kiến kinh nghiệm trong thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi.

+ Hội phụ lão với phong trào “trồng cây gây rừng”, thực hiện lời Bác dạy “vì lợi ích 10 năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”, từ mùa xuân năm 1959, khi có chủ trương trồng cây vào dịp tết nguyên đán hàng năm, Hội đã gương mẫu cổ động hội viên xây dựng các vườn cây, gieo ươm nhiều giống cây lấy gỗ, lấy củi, lấy bóng mát, lấy quả cung cấp cho nhân dân trong xã  cũng như trong vùng, xanh hoá đường làng đồng ruộng, góp phần nâng cao thu nhập của xã viên. Hàng năm, Hội đã đưa ra thị trường trên dưới 1 vạn cây giống thu trên 100.000 đồng mỗi năm làm quĩ HTX và giúp đỡ nhiều hội viên cải thiện đời sống.

+ Đội thiếu niên tiền phong có phong trào “làm nghìn việc tốt” và phong trào chăm sóc “đoạn đường em nuôi”, vệ sinh xóm làng sạch sẽ, giúp đỡ những gia đình neo đơn, già cả , gia đình chính sách.

Những phong trào của những tổ chức quần chúng, xã hội trên đã thực sự tạo ra không khí lao động tập thể, làm biến đổi bộ mặt nông thôn từ nghèo nàn, lạc hậu tiến lên CNXH qua thời kỳ quá độ gian lao thử thách.

Nó đánh dấu bước trưởng thành của các tầng lớp nhân dân ta từ thời chiến sang thời bình, từ phương thức làm ăn riêng lẻ sang phương thức làm ăn tập thể một cách chủ động, sáng tạo.

V. VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG.

Khi thành lập xã Hoằng Lưu từ tháng 7 năm 1953 thì chi bộ Đảng xã nhà đã có .............. đảng viên do đồng chí Lê Doãn Văn làm Bí thư chi bộ xã.

Trải qua hơn 10 năm thử thách của thời bình, không kém phần quyết liệt, chi bộ đến năm 1962 có số lượng đảng viên phát triển .......... đồng chí, được lập thành Đảng bộ và đến năm 1965, kết thúc kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất thì Đảng bộ xã nhà có .......... đảng viên (không kể một số đảng viên chuyển công tác thoát ly)

II. Hoăng Lưu trong công cuộc xây dựng hậu phương đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miềm Bắc, góp phần chi viện giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (1965 – 1975).

          1. Xây dựng lực lượng, chuẩn bị các điều kiện đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.

* Công tác phòng không sơ tán:

Bị thất bại liên tiếp trên các chiến trường miền Nam, từ cuối năm 1964 đế quốc Mỹ xâm lược điên cuồng đánh phá ra miền Bắc nước ta hòng ngăn chặn công cuộc chi viện to lớn sức người, sức của của nhân dân miền Bắc đối với sự nghiệp anh hùng giải phóng niềm Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Lạch Trường (Hoằng Hoá) và Hòn Nẹ (Hậu Lộc) là một trong những địa điểm đầu tiên của miền Bắc bị giặc Mỹ đánh phá bằng máy bay và tàu chiến.

Tiếp theo ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965, cầu Hàm Rồng nằm trên huyết mạch giao thông quan trọng thuộc quốc lộ 1A nối liền Bắc – Nam bị địch ném bom dữ dội.

Thế là từ đây, nhân dân ta phải đương đầu với cuộc chiến tranh leo thang huỷ diệt của giặc Mỹ ngày một ác liệt, tàn khốc.

Gần 10 năm kể từ 1964 đến cuối năm 1972, đế quốc Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc với qui mô ngày một rộng lớn, tốc độ ngày một tăng cường, hành động ngày một tàn bạo. Với âm mưu thực hiện chiến tranh huỷ diệt, kẻ thù đã không từ một thủ đoạn dã man nào, một mục tiêu nào, một địa điểm nào, một phương tiện chiến tranh nào, chúng đánh phá vào làng mạc, dân cư, ruộng đồng, đê điều, chợ búa, trường học, bệnh xá, đền chùa, bến đò, bến xe, nơi đông người qua lại, đánh cả vào nơi có trâu bò đang ăn cỏ ngoài đồng, tàn hại hết thảy mùa màng, tài sản của nhân dân. Máy bay địch đánh ban ngày lẫn ban đêm, cả thời tiết tốt lẫn thời tiết xấu bằng đủ các phương tiện hiện đại từ phản lực đến B52, từ bay tầm thấp đến tầm cao, với đủ các vũ khí tối tân như tên lửa, bom phá, bom bi, bom na –pan, bom từ trường, thuỷ lôi, rốc két...

Đối với xã nhà, là nơi gần biển, giáp cửa sông, cửa lạch, thuộc vùng giao thông đường thủy quan trọng của tỉnh từ biển lên Hàm Rồng, Cầu Tào, do vậy, nơi đây đã trở thành mục tiêu đánh phá liên tục của địch. ……Trên mảnh đất nhỏ hẹp này, giặc Mỹ đã trút xuống hàng chục tấn bom đạn với nhiều loại như: bom phá, bom bi, rốc két, đại bác, tên lửa, hòng cắt đứt giao thông ngăn chặn sự chi viện cho tiền tuyến, làm 12 người chết, 15 người bị thương, phá sập hầu như …. căn nhà (trong đó có 1 phân kho của Nhà nước), 10 con trâu, bò và nhiều diện tích hoa màu, đất canh tác bị phá hủy. Các trận đánh phá của chúng ở ….

Đứng trước sự tồn vong của đất nước, Đảng bộ và quân dân xã nhà đã kiên cường, dũng cảm, vượt lên tất cả.

Ngay từ khi mới nổ ra cuộc chiến tranh phá hoại vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, Huyện uỷ đã chỉ đạo Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân xã nhà kịp thời chuyển hướng mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến một cách mau lẹ, phù hợp.

Các chi bộ Đảng được kiện toàn củng cố. Ngày …/…/1965 cuộc bầu cử HĐND xã được tổ chức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cuộc họp đầu tiên của HĐND xã đã đề ra nghị quyết lúc này là: Trong bất cứ tình huống nào cũng phải đảm bảo tuyệt đối an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân để giữ vững sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu có hiệu quả.

Thực hiện Nghị quyết của HĐND xã, UBHC xã đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị về công tác phòng không sơ tán, đẩy mạnh sản xuất, học tập và sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công cuộc chiến đấu xảy ra.

Cuối năm 1965, một đợt sinh hoạt chính trị “ôn nghèo gợi khổ” do Tỉnh ủy phát động nêu cao truyền thống yêu nước cách mạng địa phương được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, góp phần nâng cao khí thế cách mạng trong quần chúng.

Các Chỉ thị, Nghị quyết trên đây đã được quán triệt trong các tầng lớp nhân dân.

Việc đào hầm hào được xúc tiến khẩn trương và tu bổ liên tục. Trên các tuyến đường giao thông liên thôn xóm và trục huyện lộ, tỉnh lộ, quốc lộ đi qua được đào hầm hố cá nhân và giao thông hào nối từ đường làng ra đến đồng ruộng, tạo thành thế trận liên hoàn trong sản xuất và chiến đấu.

1.               

Các trường học, nhà trẻ, trạm y tế và các kho tàng HTX, cơ quan Nhà nước được sơ tán vào dân, đào hầm đắp luỹ, duy trì việc học tập và công tác.

Trong thôn xóm, mọi gia đình đều có hầm trú ẩn và đến năm 1966 – 1967, khi cuộc chiến tranh leo thang diễn ra khốc liệt thì phong trào đào hầm chữ A theo kiểu Quảng Bình được phát động rộng khắp. Hầm được làm cột kèo bằng gỗ, tre, đắp đất dày. Hầm ngoài ngõ, hầm trong nhà, hầm tránh ban ngày, hầm tránh ban đêm. Nhiều gia đình còn đào hầm ngay tại nơi ăn ngủ dưới bếp hoặc dưới giường nằm, có gia đình đang chuẩn bị làm nhà cũng đã sẵn sàng đem nguyên liệu làm hầm cho gia đình mình cũng như giúp đỡ các gia đình khác.

Các trục giao thông, cửa hàng, nơi đông người qua lại, nơi bộ đội đóng quân, trụ sở xã, HTX đều được nguỵ trang thường xuyên có cây xanh che phủ. Ngoài đồng ruộng, kết hợp thuỷ lợi với giao thông cũng được trồng nhiều cây, vừa nguỵ trang đi lại vừa có bóng mát…

Việc “quân sự hoᔠsinh hoạt hàng ngày cũng được quán trịêt sâu rộng trong mọi gia đình, mọi cơ quan, trường học, bệnh xá. Việc cất dấu tài sản quí, phòng cháy nổ, phòng gian và việc tập dượt sơ tán người già, trẻ em, sản phụ được thực hiện có nền nếp.

Mỗi đội sản xuất, mỗi đơn vị tập thể đều có tủ thuốc phòng không, có băng ca cứu thương và dụng cụ chữa cháy... Đồng thời trên mỗi tụ điểm dân cư, bìa làng cánh đồng, trên đường đi đều có trạm gác phòng không báo động bằng kẻng.

Dưới sự chỉ đạo thường xuyên sát sao của Đảng bộ, chính quyền mặt trận và các đoàn thể quần chúng, các HTX, công tác phòng không an toàn đã trở thành ý thức thường trực trong nhân dân ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người, mọi nhà, mọi đơn vị một cách thích hợp, sáng tạo.

Tính ra, toàn xã trong gần 10 năm có chiến tranh phá hoại đã làm ….. hầm chữ A, đào ……m giao thông hào, …. hố cá nhân, đắp ….. khối đất luỹ và trồng hàng chục ngàn cây xanh nguỵ trang tổng công với hàng ngàn ngày công, thực sự đã tạo ra thế chủ động chiến lược đánh thắng giặc Mỹ phá hoại miền Bắc.

Nhờ vậy mà chiến tranh tuy ngày càng khốc liệt và có thời gian cao điểm như các năm 1966 - 1967 và năm 1972, nhiều ngày đêm hàng chục lượt máy bay trên không, hàng trăm loạt đại bác từ mặt biển dội bom, nã đạn vào nhiều làng xã, nhưng đại bộ phận dân cư vẫn giữ vững được tốc độ sản xuất học tập, công tác. .

Lớp lớp con em nhân dân vẫn lũ lượt tới trường đông đủ với vành lá xanh nguỵ trang và chiếc mũ rơm vàng óng đội đầu một cách đều đặn, tự tin... Bệnh nhân vẫn được điều trị chu đáo tại cơ sở, xã viên vẫn “tay cày tay súng” có mặt trên khắp đồng ruộng, cơ quan bộ đội vẫn nhộn nhịp vào ra, công tác một cách chủ động với tinh thần cách mạng tiến công mạnh mẽ. Những thiệt hại về tính mạng và tài sản của nhân dân, HTX, Nhà nước đã được hạn chế đến mức thấp nhất, góp phần giao thông chi viện chiến trường một cách kịp thời có hiệu quả.

* Xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng bán vũ trang sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu:

Khi chuyển hướng mọi mặt hoạt động từ thời bình sang thời chiến, ngoài công tác phòng tránh an toàn, lực lượng dân quân du kích xã được củng cố nhanh chóng và tăng cường mọi mặt về số lượng cũng như chất lượng.

Ban dân quân xã trong thời kỳ này do các đồng chí phụ trách gồm:

- Lường Văn Tịch (Nghĩa Lập) 1965 - 1966

- Nguyễn Thị Lịch (Nghĩa Lập) 1966 – 1968

- Lương Quang Lời (Phượng Ngô 2) 1968 – 1971

- Lương Quang Tuất (Phục Lễ) 1971 – 12/1973

- Lê Công Vowng (Phượng Ngô 2) 1/1974 – 1975

      Dân quân tự vệ khẩn trương bước vào huấn luyện. 100% quân số huấn luyện đủ chương trình, tự tạo hàng trăm bàn chông, đào giao thông hào, làm hầm chữ A, nam nữ dân quân được tổ chức thành 8 trung đội vừa làm nhiệm vụ trực chiến bắn máy bay, sẵn sàng thay thế pháo thủ trên các trận địa của bộ đội khi cần thiết, vừa làm nhiệm vụ vận tải cứu thương, cứu sập, kết hợp tranh thủ gia tăng sản xuất.

      Trạm y tế được tăng cường lực lượng hàng chục nhân viên cứu thương được đào tạo tại chỗ, nhiều chiếc băng ca và nhiều túi thuốc phòng không được chuẩn bị sẵn sàng. Người già và trẻ nhỏ được sơ tán triệt để. Đảng viên, cán bộ, đoàn thanh niên ở lại bám đất giữ làng vừa chiến đấu vừa sản xuất với khí thế “Mỗi người làm việc bằng hai”.

      Lực lượng dân quân địa phương đã phối hợp cùng bộ đội pháo cao xạ đánh có không?...........ở địa phương lúc này có lực lượng bộ đội nào đóng quân?..... Các loại vũ khí được trang bị?  các đơn vị được tổ chức, chiến đấu như thế nào? Những con người nổi bật?……….

      Trong không khí khẩn trương cả nước lên đường, toàn dân ra trận, lớp lớp thanh niên Hoằng Lưu liên tục hăng hái ra chiến trường. Nhiều gia đình có 2 – 3 con cùng lên đường một lúc. Có gia đình, con độc nhất cũng xung phong. Nơi hậu phương nhiều gia đình khó khăn nhưng đã có sự động viên giúp đỡ kịp thời có hiệu quả của tổ chức Hội mẹ chiến sĩ, hội phụ nữ. Các mẹ, các chị đã vận động trên 100 tấm vải và lưới mũ ngụy trang tặng chiến sĩ lên đường ra trận. Đồng thời toàn xã đã huy động được hơn 4.000 ngày công do đoàn thanh niên và hội phụ nữ chủ trì vận động để giúp đỡ các gia đình quân nhân có hoàn cảnh neo đơn. Những việc làm như thế đã góp phần làm vui lòng anh em ngoài mặt trận, nên mặc dù trong chiến đấu ác liệt nhưng tình trạng đào ngũ đã không sảy ra.

Từ đầu năm 1965, lực lượng dân quân xã phát triển lên…. đội viên nam, nữ, hầu hết đảng viên đều là đội viên dân quân phụ trách từng phần công việc. Toàn xã tổ chức thành hai đại đội chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Ngoài ra, toàn xã còn có một trung đội mạnh độc lập lấy tên là trung đội …. ?Với khoảng trên 100 đội viên làm nhiệm vụ cơ động ứng cứu kịp thời giải quyết hậu quả các cuộc đánh phá của địch ở từng cơ sở (xã ta có trung đội này không?).

Trong trung đội mạnh có các đội cứu sập hầm; cứu hỏa; cứu thương; phụ trách sơ tán; phụ trách hậu cần và bảo vệ kho tàng Nhà nước,  HTX. Mỗi đội có 25 người.

Nhiều vũ khí mới được trang bị đến từng trung đội, tiểu đội dân quân như súng tiểu liên, trung liên (ta có không?). Căn cứ vào địa hình trong xã, lực lượng dân quân đã tổ chức các trận địa, luôn túc trực ngày đêm trong đó có nhiệm vụ cần

Cùng với công tác trực chiến bảo vệ bầu trời mặt đất quê hương, một nhiệm vụ cần kíp lúc này là giải quyết hậu quả những lần đánh phá của địch đã được lực lượng dân quân xã làm nòng cốt, cứu dân, cứu bộ đội, cứu tài sản Nhà nước ra khỏi bom đạn chiến tranh. Sau mỗi cuộc chiến đấu và phục vụ chiến đấu, Đảng bộ đã tổ chức họp đúc rút kinh nghiệm nêu bài học về phối hợp nhanh có hiệu quả, hạn chế mức thương vong. Nhũng bài học chủ quan, thiếu cảnh giác được chỉ ra nghiêm túc. Các chi bộ, tổ Đảng và đoàn thể quần chúng khẩn trương đi sâu vào củng cố hầm, hào, tổ chức đội hình chặt chẽ, sẵn sàng đáp ứng chiến sự diễn ra.

Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại địa phương, dân quân xã nhà còn tổ chức nhanh chóng các đơn vị cơ động tham gia chi viện kịp thời các địa phương khác. Dân quân đã dành hàng nghìn ngày công, suốt trong cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tham gia đắp ụ pháo Hàm Rồng (Hoằng Long), cầu Tào (Hoằng Lý) và có thời gian đã tổ chức lực lượng vào tuyến lửa Quảng Bình để làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, hàng hoá sửa đường thông tuyến ra chiến trường. Năm 1972 địch rải thảm B52 ở Hoằng Phượng (ngày 21/4), hàng trăm dân quân xã nhà đã có mặt chia sẻ với đồng bào nơi đây một cách khẩn trương tích cực.

Chiến công nối tiếp chiến công, dân quân xã nhà luôn xứng đáng với niềm tin của quân dân trong huyện về một đội quân xung kích dũng .

          2. Đảng bộ lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng Đảng trong điều kiện có chiến tranh.

          a. Kinh tế:

          * Về nông nghiệp

Bước vào công cuộc chống chiến tranh phá hoại nổ ra ở miền Bắc, thực hiện các Nghị quyết lần thứ IX (tháng 10 năm 1964) và lần thứ X (tháng 4 năm 1967) của Đại hội đại biểu Đảng bộ Huyện về 3 mục tiêu trong nông nghiệp gồm 5 tấn thóc, 2,5 con lợn và 1 lao động trên 1 ha gieo trồng; đồng thời học tập gương sản xuất thâm canh tăng năng suất của HTX Trung Hoà (Hoằng Trinh), HTX đầu tiên của Huyện đạt 3 mục tiêu trong nông nghiệp, Đảng bộ và nhân dân xã nhà tập trung sức tăng cường công tác cải tiến quản lý HTX qui mô bậc thấp thôn và liên thôn, trong đó chủ yếu là nâng cao năng lực và sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh cuộc CMKHKT và ổn định cải thiện đời sống nhân dân trong chiến tranh.

Đến tháng 1 năm 1969 từ 4 HTX nhỏ đã thấp nhập thành HTX bậc cao do ông Cao Văn Tôn làm chủ nhiệm, lúc này toàn HTX có trên 700 hộ với 4.000 nhân khẩu, diện tích canh tác trên 600 mẫu.

Qua các đợt học tập chính trị chuyển hướng chỉ đạo chiến lược từ thời bình sang thời chiến và các nghị quyết đại hội Đảng bộ tháng ……. năm 196…, tháng ……. năm 196…., về đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng cánh đồng 5 tấn, thực hiện 3 mục tiêu trong nông nghiệp, sau khi các ban quản lý HTX được kiện toàn trong từng thời kỳ, cuộc cách mạng KHKT được quan tâm thường xuyên bằng các biện pháp thuỷ lợi, phân bón và du nhập giống mới.

Công tác thuỷ lợi được coi là biện pháp hàng đầu để có năng suất cao. Trong 2 năm 1966 – 1967, cùng với phong trào thuỷ lợi toàn huyện, mặc dù chiến tranh ác liệt nhưng các chiến dịch thuỷ lợi nội đồng của xã được mở ra liên tục với hàng ngàn ngày công của nhân dân đã đào đắp trên 7.000 m3 đất, nạo vét, nâng cấp kênh mương thuộc các vùng chuyên canh của các HTX. Kết hợp với thuỷ lợi, việc xây dựng giao thông bờ thửa, bờ vùng 2 cấp, 3 cấp cũng được hoàn chỉnh cơ bản ở thời gian trên tại khắp cánh đồng trong xã.

Phong trào làm phân bón, nhất là phân bèo dâu, thu hút một lực lượng lớn nữ đoàn viên Thanh niên lao động tham gia tích cực. Khẩu hiệu “núi phân biển lúa”, được quán triệt trong giai cấp nông dân tập thể. Mỗi năm quân bình lượng bèo dâu và phân chuồng được tung ra trên các cánh đồng trong xã hàng chục ngàn tấn. Các HTX đều có đội chuyên làm phân, có kho chứa phân xanh, phân chuồng. Nhiều ụ bèo dâu được tích trữ ngay ở đầu bờ, chân ruộng. Các biện pháp kỹ thuật chọn lọc giống, ngâm ủ giống nhân giống mới nhất là giống lúa X1 được đội chuyên giống của HTX lúc này chủ yếu đã được học sơ cấp nông nghiệp ở huyện về chăm sóc.

Phong trào cấy dày, cấy thẳng hàng, cấy nhanh, cấy đúng kỹ thụât được phổ biến rộng rãi ở khắp các HTX. Mỗi năm HTX và đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ đều tổ chức được các đợt thi cấy giống mới trong hầu hết xã viên, có tác dụng cổ vũ phong trào thi đua trong mọi tổ đội sản xuất.

Việc chăm sóc làm cỏ, bón phân, phòng trừ sâu bệnh được tiến hành thường xuyên trên đồng ruộng.

Một số máy nông cụ thời kỳ này có tốc độ giải phóng nhanh sức lao động và tăng năng suất cây trồng được các HTX mua sắm thêm như máy Ba Lan, máy Trần Hưng Đạo phục vụ tưới tiêu và tuốt lúa. Nhiều loại xe cải tiến như xe kéo, xe đẩy xe trâu, xe thồ, xe ngựa được sử dụng phổ biến trong các HTX nhằm vận chuyển trong canh tác, thu hoạch kịp thời vụ.

Việc xen canh gối vụ, tăng hệ số lần gieo trồng trên một diện tích đất cũng được đẩy mạnh bằng làm thêm vụ đông đại trà với các hoa màu ngắn ngày như khoai tây, cà chua, bắp cải, rau đậu...

Riêng cây lạc được đưa nhiều vào sản xuất vụ đông, làm thay đổi tập quán canh tác màu của nhân dân. Đặc biệt đối với kỹ thuật lạc giống ra đời năm 1971 gồm 40 anh chị em thường xuyên có mặt ở trại trong đó có 01 trung cấp kỹ thuật phụ trách, nên năng xuất, sản lượng hàng năm đều vượt mức và dẫn đầu trong hợp tác của huyện. Hàng năm toàn xã thu hoạch trên dưới …. tấn lạc củ, …..vừng.

Phong trào chăn nuôi cũng có tốc độ tăng nhanh. Các HTX thời kỳ này đêù thành công trong việc tổ chức chăn nuôi tập thể. Mỗi HTX đều có một chuồng trại chăn nuôi trên dưới 200 con, có đội chuyên và HTX đã dành ….% diện tích đất để trồng rau, màu, cây lương thực phục vụ chăn nuôi. Đàn lợn lai kinh tế đến đây được du nhập nhiều thay thế 80% giống lợn ỉ nội địa. Đàn lợn giống được nuôi gia công, được phối tinh nhân tạo, tăng cường phát triển trong khu vực gia đình cũng như HTX đủ số lượng cung cấp cho nhu cầu chăn nuôi tập thể cũng như chăn nuôi hộ lẻ.

Năm 1965, khi mới xảy ra chiến tranh phá hoại, tổng đàn lợn tập thể và gia đình trong xã có khoảng 600 – 700 con đến năm 1968 tăng trên 800 con và năm 1975 đã có trên 1000 con. Bình quân năm thời kỳ đạt trên 800 con/năm, với trọng lượng xuất chuồng đạt 50 – 60 kg/hơi/con/năm.

Theo mục tiêu phấn đấu 2,5 con lợn/ha gieo trồng thì xã nhà trong thời kỳ chống Mỹ với diện tích canh tác ….. ha đã đạt và vượt mức kế hoạch chăn nuôi lợn là ….. con/ ha gieo trồng.

Bên cạnh đàn lợn tăng nhanh, đàn trâu bò cũng được phát triển mạnh với bình quân thời kỳ ………… con, đủ sức kéo cày cấy.

Đàn gia cầm hàng năm cũng quân bình có trên 3000 con, chủ yếu là vịt Bắc Kinh có trọng lượng 2 – 3 kg/con tăng lên so với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Sản lượng tôm, cá cũng đạt ………. tấn mỗi năm ở thời kỳ này, đáp ứng nhu cầu phân phối theo định lượng thực phẩm của bộ đội, cơ quan nhà nước và nhiều tầng lớp dân cư.

Về năng suất nông nghiệp, trong điều kiện chiến tranh leo thang ngày một ác liệt, ruộng đồng, làng xóm bị đánh phá liên tục, số nam thanh niên và trung niên lên đường ra phía trước ngày càng lớn. Lao động nông nghiệp ngày càng ít dần. Năm 1966 -1967, lại gặp một nạn hạn hán chưa từng có hơn chục năm qua, làm chết cháy hàng trăm ha lúa, có chỗ chết cả cau, dừa, chuối... Tiếp đến, năm 1973 lại bị bão lớn rồi lụt nặng kéo dài, đồng ruộng không có thu hoạch, nhân dân ta phải gồng mình chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt.

Với tinh thần “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, quán triệt các nghị quyết của Đảng cấp trên, Đảng bộ xã nhà đã phát động phong trào “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”, “giặc đến ta đánh, giặc tránh ta làm”, vừa khắc phục thiên nhiên vừa đẩy mạnh cuộc vận động cải tiến quản lý HTX, coi đó là mấu chốt để phát triển kinh tế, xây dựng hậu phương vững mạnh, chi viện cao  nhất cho chiến trường. Nhờ vậy, năng suất nông nghiệp không những được giữ vững mà đã có những đột biến vượt trội. Năm 1968 bình quân toàn xã đạt 4,5 tấn/qui thóc/ha thì đến 1973 đã đạt gần 5 tấn/ha/năm. Đây là thành tích đáng kể trong thực hiện mục tiêu nông nghiệp do trên đề ra, đứng vào tốp năng suất khá của Huyện. Tổng sản lượng lương thực qui thóc bình quân cả thời kỳ đạt …………. tấn.

*  Hợp tác xã mua bán trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã phát triển nguồn vốn lên ….. triệu đồng ngân hàng, với ………. cổ phần, trong đó vốn tích luỹ là ………… đồng.

Chủ nhiệm HTX mua bán từ 1965 đến 1975 lần lượt gồm:

……………………

Với nguồn vốn như trên, HTX đã phát huy mạnh mẽ việc khai thác nguồn hàng ở khắp cơ sở trong và ngoài huyện. Trong đó có nhiều mặt hàng lâm sản được khai thác từ miền núi về như măng khô, mục nhĩ, các loại song mây... Năm 1972, giữa lúc chiến tranh ác liệt, HTX đã cử người cùng HTX mua bán Huyện vào tận Quảng Bình mua lá nón về gia công thành nón mũ phục vụ nhân dân sản xuất, chiến đấu.

Những lúc các cơ sở xã nhà cũng như xã bạn bị đánh phá dữ dội nhất là ở  Cầu Tào, Hàm Rồng, Hoằng Phượng, HTX mua bán xã đã kịp thời chi viện những hàng hoá cần thiết như vải vóc, quần áo, chăn màn, bát đĩa, xoong nồi để cứu trợ bộ đội, nhân dân bị nạn.

HTX mua bán thực sự đã phát huy tích cực vai trò nội trợ đắc lực trong chiến tranh của các tầng lớp nhân dân địa phương. Nhiều mùa vụ, HTX mua bán mang cả hàng hoá đến tận các cánh đồng sản xuất, các cơ quan, trường học, các cuộc họp, các công sự chiến đấu để phục vụ nhân dân, đảm bảo thời gian lao động, công tác và học tập.

Nhiều năm, HTX mua bán đã được ngành chủ quản cấp trên tặng giấy khen, bằng khen, cờ luân lưu về đơn vị có thành tích xuất sắc của Huyện.

* Hợp tác xã tín dụng: thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, cũng phát triển mạnh với trên ……. xã viên tham gia, số vốn tính đến 1975 đạt trên …….. vạn đồng ngân hàng.

Chủ nhiệm HTX tín dụng từ 1965 đến 1975 là ông :

…………………….

Trong chiến tranh, HTX tín dụng với nguồn vốn như trên, hàng năm đã hỗ trợ tích cực cho nhu cầu HTX nông nghiệp và nhiều tầng lớp nhân dân phát triển nguồn chăn nuôi gia đình, xây dựng các công trình phòng tránh an toàn. HTX tín dụng lúc này còn mở rộng được sự liên kết với nhiều HTX tín dụng các xã bạn, đảm bảo luân chuyển vốn vay trong nhiều cơ sở, nhiều tổ chức địa phương quanh vùng, góp phần phục vụ xây dựng hậu phương kháng chiến một cách tích cực.

Các ngành nghề thủ công trong xã chủ yếu là nấu gạch ngói, mây tre đan, cói, thợ xây, thợ mộc... được HTX nông nghiệp quản lý, hàng năm đã có giá trị sản phẩm gần 3000 đồng ngân hàng lúc này. Riêng số lượng gạch ngói được sản xuất mỗi năm 3 – 4 triệu viên, đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng cơ  sở vật chất HTX và các công trình vệ sinh phòng tránh của nhân dân địa phương trong chiến tranh.

b. Văn hoá xã hội:

* Ngành giáo dục phổ thông:

Bước vào năm học 1965 – 1966, toàn xã có ….. học sinh phổ thông với ……….lớp cấp I. Nổ ra chiến tranh trường học từ khu tập trung được sơ tán vào dân, trong các gia đình rộng rãi.

Hiệu trưởng trường phổ thông cấp I thời kỳ này lần lượt gồm các thầy giáo:

……………..

Do nhu cầu học tập của nhân dân nhất là tuổi thiếu niên ngày càng cao hơn, để đáp ứng yêu cầu đó, trường cấp 2 được xây dựng năm 1968 do cô Đậu Thị Am (Nghệ An) làm Hiệu trưởng ?, lúc đầu trường mới là tranh, tre nhỏ bé do nhân dân đóng góp công và của xây dựng nên. Thời gian đầu trường có 2 lớp: Lớp 5 và lớp 6, sĩ số học sinh gồm 200 em. Năm học 1968 - 1969 trở đi, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, hàng năm do trường lớp sơ tán nên phải làm đi làm lại nhiều lần, việc học tập có rất nhiều khó khăn, học sinh phải học 2 ca trong ngày, song vẫn bản đảm chất lượng tốt, tỉ lệ học sinh thi đậu lên lớp đạt gần 100%.

Các nhà trường đã cùng với địa phương hết sức chăm lo về công tác phòng tránh an toàn cho học sinh. Việc làm hầm chữ A và đào hào, hố cá nhân, đắp luỹ bao quanh lớp học được xúc tiến khẩn trương tích cực. Mỗi năm, bước vào khai giảng là lớp lớp phụ huynh cùng với thầy trò đào đắp mới, tu sửa nhiều hầm luỹ. Nhiều vật liệu như luồng nứa, tre gỗ được đưa vào làm hầm chữ A, đủ chỗ đảm bảo an toàn cho học sinh. Tất cả con em đều có mũ rơm đội đầu và lá nguỵ trang trên đường tới lớp suốt trong thời gian có chiến tranh.

Bởi làm tốt công tác phòng tránh mà trong những năm tháng có chiến sự ác liệt, việc giảng dạy, học tập của các trường vẫn được tiến hành đều đặn. Sĩ số học sinh hàng năm vẫn không hề giảm sút và ngược lại cứ đến niên khoá mới thì số lượng học trò lại được tăng lên qua lớp đầu cấp.

Năm 1975, kết thúc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, số học sinh xã nhà ở cả 2 cấp có ….. em với ……. lớp học trong đó có ….. lớp cấp I và ….. lớp cấp 2.

Phong trào thi đua “ Hai tốt” như lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy thật tốt, học thật tốt, liên tục được phát động trong cả 2 nhà trường.

Đáng chú ý là mặc dù có chiến tranh tàn khốc nhưng các phương châm giáo dục của Đảng như “học đi đôi với hành”, “nhà trường gắn liền với hoạt động xã hội” đều được các trường quán triệt và thực hiện nghiêm túc có kết quả.

Các trường đều có cơ sở giảng dạy trực quan, sinh động, có vườn thực nghiệm, vườn địa lý và đã tổ chức nhiều hoạt động giúp dân trong các công tác làm thuỷ lợi, bắt sâu keo gặt mùa, làm ruộng thí nghiệm tăng sản, nuôi thả bèo dâu cho các HTX theo kế hoạch từng mùa vụ.

Phong trào học tập các điển hình tiên tiến Bắc Lý, Hải Nhân và trường cấp I Hoằng Lộc, cấp 2 Tố Như, trường vừa học vừa làm Hoằng Trinh cũng diễn ra sôi nổi, nhất là phong trào xây dựng tổ đội lao động XHCN trong giáo viên do ngành chủ quản phát động. Nhiều năm, trường có các báo cáo kinh nghiệm giảng dạy, quản lý tại các hội nghị khoa học giáo dục huyện.

Các kết quả cụ thể……….?

Mười năm có chiến tranh cũng là mười năm phong trào giáo dục địa phương trở nên sôi động, có chất lượng, với sự quan tâm tích cực của Đảng bộ, chính quyền, nhà trường và nhân dân địa phương. Tính mạng học sinh được bảo đảm an toàn tuyệt đối, tỷ lệ thi đỗ tốt nghiệp ở cả 2 cấp đạt quân bình 98% có năm 100% như 19…?

Cả 2 trường nhiều năm đạt danh hiệu “trường tiên tiến chống Mỹ cứu nước” của Huyện, có năm đạt tiến tiến cấp tỉnh và Hội đồng giáo viên 2 cấp luôn đạt là đơn vị “tổ đội lao động “XHCN” trong ngành giáo dục Huyện ?.

Cũng từ mái trường tiên tiến chống Mỹ cứu nước này, hàng năm số học sinh thi đỗ vào trường PT cấp III Hoằng Hoá đạt tỷ lệ bình quân 50 - 60%/năm số học sinh dự thi.

 Phong trào vỡ lòng:

Chiến tranh bùng nổ, phong trào vỡ lòng xã nhà lần lượt do các cô giáo phục trách lúc này gọi là Trưởng đoàn vỡ lòng là cô Trần Thi Khuơn (Phượng Ngô 1)

Thời kỳ này, bên cạnh các lớp vỡ lòng thì nhà trẻ được gọi là mẫu giáo. Vỡ lòng mẫu giáo đều đặt lớp ở các HTX. Mỗi HTX có 1 – 2 lớp theo cụm dân cư để thuận tiện đi lại và phòng tránh. Toàn xã có …. lớp do …. cô giáo phụ trách. Các HTX đã dành vật liệu, ngày công đầu tư cho việc làm lán học, đào đắp hầm luỹ phòng tránh an toàn cho các cháu. Có thời gian như năm 1966 – 1967 , 1972, địch đánh phá dữ dội, các nhà trẻ phải sơ tán vào dân hoạt động. Chế độ ăn một buổi trong ngày của các cháu vẫn được HTX duy trì cung cấp đều đặn. Thù lao giáo viên được tính bằng công điểm loại I của HTX. Tính ra mỗi năm mỗi giáo viên đã được HTX cấp quân bình 1 tạ thóc.

Đội ngũ giáo viên tất cả có…….. người vừa giảng dạy vừa sản xuất và phục vụ chiến đấu ở cơ sở. Đáng phấn khởi là trình độ giáo viên vỡ lòng mẫu giáo luôn được quan tâm bổ túc nâng cao.

Hàng năm các cô giáo đều được lần lượt thay nhau đi học nâng cao sư phạm thuộc trình độ sơ cấp tại Huyện và Tỉnh, thời gian 1 - 2 tháng do HTX đài thọ kinh phí học tập, sinh hoạt các khoá học tập đều đi sâu vào đổi mới phương pháp giảng dạy vỡ lòng và mẫu giáo ở cơ sở.

Do được quan tâm về nghiệp vụ và được cải thiện về đời sống nên đội ngũ các cô giáo luôn yên tâm công tác. Nhờ vậy, hàng năm trong chiến tranh, quân bình toàn xã đã thu hút trên 80% số cháu đúng độ tuổi được vào học vỡ lòng để lên lớp 1 phổ thông theo tiêu chuẩn của trên đề ra lúc này.

Nhiều năm liên tục, phong trào vỡ lòng, mẫu giáo của xã đều được phòng giáo dục công nhận là đơn vị tiên tiến xuất sắc của huyện, 50% giáo viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến, có người đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua.

* Phong trào Bổ túc văn hoá:

Bước vào chiến tranh, quán triệt phương châm “Một hội đồng hai nhiệm vụ” do Bộ giáo dục đề ra, 2 trường phổ thông xã nhà đều dành một tỷ lệ giáo viên để giảng dạy BTVH ở xã, trong đó có …….. lớp BTVH cấp I và ……….. lớp BTVH cấp 2.

Lúc này, phòng giáo dục huyện đều có một cán bộ chuyên trách BTVH ở mỗi cụm xã, thường xuyên, nhà trường kết hợp với cán bộ phòng chỉ đạo phát triển phong trào.

Trưởng ban BTVH xã thời kỳ chống Mỹ cứu nước ở xã lần lượt gồm:

………………………………………

Năm học 1966 – 1967, mặc dù chiến tranh leo thang đã diễn ra ác liệt, nhưng phong trào BTVH xã không những được giữ vững mà còn phát triển nên xã đã lập ra trường BTVH cấp I + II gồm …… lớp (1 lớp cấp I và 3 lớp cấp II từ lớp 5 đến lớp 7 theo hệ cải cách lúc này) Có hay không ở xã ta?. Năm học 197… – 197….. các lớp BTVH xã được chuyển thành trường BTVH “vừa học vừa làm”. Số học viên hàng năm có trên dưới 200 người bao gồm cán bộ xã, HTX, đội trưởng sản xuất cùng một số Thanh niên quá tuổi học phổ thông.

Công tác BTVH ở thời kỳ này đã kịp thời góp phần vào việc nâng cao trình độ nhận thức về ba cuộc cách mạng ở địa phương, nhất là cách mạng KHKT.

* Phong trào y tế:

Trong chiến tranh, trạm y tế được sơ tán ra bìa làng, dựng lán tranh, làm hầm hào, đắp luỹ để đảm bảo an toàn cho việc điều trị.

Trưởng trạm thời kỳ 1965 - 1975 lần lượt gồm:

- Lương Quang Phần (Phượng Ngô 1)

- Nguyễn Quốc Uyển (Nghĩa Lập)

- Trần Thi Sửu (Phượng Khê)

Lúc này trạm có …. nhân viên gồm …. y sĩ  và …. y tá điều trị, …. nữ hộ sinh. Trang thiết bị vẫn là thiếu thốn, chỉ được trang bị panh kéo, bơm tiêm, ống thụt….

Trạm gồm ….. giường bệnh, có … bàn hộ sản, cuối năm 1966, trước tình hình chiến tranh ác liệt, trạm đã được nhân dân đào đắp hầm lũy bảo vệ. Đến đầu năm 19 ………….., trạm được chuyển ra vùng trung tâm hiện nay, tiếp tục dựng nhà cấp bốn, xung quanh có luỹ bao bọc để chữa bệnh thuận tiện việc đi lại của nhân dân.

Trong chiến tranh, dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng uỷ xã, công tác phòng không nhân dân được trạm nỗ lực thực hiện. Trạm thường xuyên phân công nhau xuống các đội sản xuất HTX, tổ chức các phương tiện cấp cứu như băng ca, cáng và sắm các túi thuốc phòng không chủ yếu là bông, băng, gạc, thuốc đỏ sát trùng, đồng thời huấn luyện sơ cứu ban đầu ở cơ sở.

Những ngày xã nhà bị Mỹ đánh phá, các trận chiến trận xẩy ra ở Hàm Rồng, Cầu Tào và các xã bạn, trạm kịp thời có mặt cùng dân quân, giải quyết nhanh chóng các công việc cứu thương, tải thương, góp phần hạn chế thương vong.

Công tác vệ sinh phòng bệnh trong cộng đồng dân cư cũng được trạm quan tâm tích cực, việc tiêm chủng phòng dịch được xúc tiến thường xuyên theo định kỳ về các bệnh tả lỵ, thương hàn, đậu mùa... Việc khám sản cũng đẩy mạnh liên tục đảm bảo sức khỏe cho phụ nữ, lực lượng lao động đông đảo ở hậu phương. Năm 1966, thực hiện chủ trương “ đặt vòng tránh thai”, toàn xã đã vận động trên 30% chị em ở tuổi sinh đẻ tham gia, góp phần ổn định dân số, tăng cường sức lao động nông thôn.

Việc xây dựng 3 công trình vệ sinh hợp qui cách được phát động mạnh mẽ đến năm 1975 thì toàn xã đã có .. ….. hộ, chiếm …/… số hộ trong xã xây được giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh bằng gạch.

Hội đông y xã thời gian này có ….. thành viên trực làm việc tại trạm y tế xã.

Hội trưởng Đông y lần lượt là các ông:

……………………

Hội đã tăng cường chăm sóc vườn dược liệu, trồng được nhiều cây thuốc dân gian cổ truyền như kinh giới, bạc hà, tía tô chữa cảm cúm, mạch môn tăng lực và bào chế thuốc tô mộc chữa đường ruột, cùng các bài thuốc gia truyền chữa đau mắt, sau răng, sâu quảng... kịp thời góp phần điều trị các bệnh thông thường trong nhân dân được điều trị tại nhà có hiệu quả, giảm bớt khó khăn đi lại trong chiến tranh, đáp ứng yêu cầu sản xuất, chiến đấu ở cơ sở.

Nhiều năm liền, trạm y tế và Hội Đông y xã nhà được công nhận là đơn vị tiên tiến, được tặng cờ thi đua luân lưu của ngành y tế huyện (Có thành tích này không?).

* Công tác thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao và văn nghệ quần chúng:

Thời gian có chiến tranh, công tác thông tin tuyên truyền được tập trung vào nhiệm vụ động viên chiến lược xây dựng hậu phương kháng chiến chống Mỹ cứu nước với khẩu hiệu “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Nhiều khẩu hiệu lớn được kẻ vẽ trang hoàng đẹp đẽ, dựng lên tại nhiều khu trung tâm dân cư, các trục giao thông chính, nơi đông người qua lại, thu hút sự chú ý của nhân dân.

Trong công tác thông tin tuyên truyền thời kỳ này, các HTX đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất như mua sắm thêm đường dây, loa kim, lập thêm hệ thống truyền thanh trong thôn xóm, đến tận mỗi gia đình để kịp chuyển tải các chủ trương chính sách của Đảng, phong trào sản xuất chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng hậu phương vững mạnh, cùng các tin tức chiến thắng trên 2 miền Nam – Bắc đang sục sôi đánh Mỹ.

Cũng thời gian này, nhiều cuộc mít tinh mừng chiến thắng của quân dân ta và lên án tội ác dã man của địch giết hại đồng bào niền Nam được tổ chức rộng rãi thu hút các tầng lớp nhân dân hướng về miền Nam ruột thịt, ra sức chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến.

Phong trào TDTT cũng được phát động sâu rộng trong cộng đồng dân cư nhất là trong Thanh thiếu niên, học sinh với các hoạt động bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn... đã góp phần cổ vũ việc nâng cao sức khỏe, thể chất của nhân dân nhằm phục vụ sản xuất và chiến đấu có hiệu quả.

Đặc biệt phong trào “tiếng hát át tiếng bom” đã trở nên cao trào văn nghệ quần chúng rộng rãi.

Kháng chiến gian nan nhưng tiếng hát vẫn bay cao bay xa vang vọng trong làng xóm, ngoài đồng ruộng. Năm 1967, các HTX đi sâu củng cố các đội văn nghệ không chuyên. Nhiều vở kịch truyền thống được cải biên theo các thể loại dân ca được nhân dân rất ưu chuộng. Mỗi HTX có một đội văn nghệ ít nhất cũng có 9 -10 diễn viên được hợp tác chăm lo trang bị phương tiện biểu diễn và cấp công điểm ăn chia phân phối.

Do sự khuyên khích đóng góp của nhân dân và tinh thần hăng hái làm việc, phục vụ của các đội văn nghệ mà hầu hết các ngày kỷ niệm của Đảng của dân tộc, ngày lễ tết nhất là các đợt tiễn quân lên đường, phong trào biểu diễn văn nghệ xã luôn được tổ chức rộng rãi. Trong các đợt hội diễn huyện, đội văn nghệ nghiệp dư địa phương đều được đánh giá là đơn vị khá, được UBHC huyện tặng giấy khen và vật phẩm lưu niệm.

* Công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội:

Với vị trí xã là địa bàn gần gần cửa sông, cửa nên nhiều lần chịu sự đánh phá của địch. Trong chiến tranh việc giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được coi là nhiệm vụ trọng yếu.

Ban công an xã, khi nổ ra chiến tranh đã kịp thời được kiện toàn củng cố.

Trưởng ban Công an xã qua các khoá bầu cử HĐND đều do một phó Chủ tịch UBHC xã phụ trách ?, lần lượt gồm:

…………………………..

Số lượng công an viên thời kỳ này thường xuyên có ….. – …. người. Có thời gian tăng lên …. – ….. người như năm 1966 – 1968, biên chế xuống các đơn vị Hợp tác xã. Theo sự chỉ đạo của ngành chức năng, các lớp huấn luyện chính trị, quân sự ngắn ngày của công an được tổ chức theo định kỳ do phòng Công an huyện phụ trách.

Công tác làm trong sạch địa bàn được chú ý ngay từ đầu lúc nổ ra chiến tranh. Những đối tượng có tiền án, tiền sự được phân loại và theo dõi giúp đỡ trong cộng đồng dân cư.

Nhờ hoạt động tích cực và biết dựa vào dân để tiến hành nhiệm vụ mà suốt cả thời gian có chiến tranh, mặc dù ở địa bàn phức tạp trong việc quản lý người qua lại, nhưng các biểu hiện gây rối và nhiều tệ nạn xã hội luôn được khống chế, không có trọng án xẩy ra. Tính mạng và tài sản của nhân dân trong chiến tranh luôn được đảm bảo, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân yên tâm sản xuất chiến đấu.

Một đóng góp to lớn của công an xã lúc này là việc giải quyết kịp thời các hậu quả khi có chiến sự xẩy ra. Những đợt đánh của địch vào các địa điểm trong xã, hầu hết công an viên đều có mặt trên trận tuyến nhanh chóng giải toả hàng hoá, cứu chữa tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân.

Mười năm có chiến tranh cũng là mười năm lực lượng công an xã nhà lăn lộn gắn bó với dân với Đảng, tận tuỵ phục vụ, hy sinh, đã được Đảng bộ và nhân dân tin tưởng, được chính quyền và các ngành chức năng từ huyện đến tỉnh cấp nhiều giấy khen, bằng khen.

 

c. Xây dựng Hệ thống chính trị :

* Xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân:

Xây dựng chính quyền:

Hơn 10 năm cả 2 miền sục sôi đánh Mỹ xâm lược xã nhà đã trải qua ….(5) khoá bầu cử HĐND xã với khoá đầu tiên vào ngày …. tháng … năm 196…, mỗi khoá có quân bình ….. đại biểu, trong đó chất lượng đại biểu HĐND được nâng lên về năng lực, sức chiến đấu ở thời kỳ mới. Nổi bật là số có trình độ KHKT và trình độ văn hoá hết cấp II phổ thông đã chiếm tỷ lệ trên 50%; đại biểu nữ cũng có 7 – 8 đại biểu mỗi khoá. Các khoá đều có nhiều đại biểu quần chúng, thể hiện sự đoàn kết toàn dân đi vào công cuộc cứu nước, vĩ đại của dân tộc.

Chủ tịch UBHC xã qua các kỳ bầu cử gồm:

Cao Văn Tởi (Nghĩa Phú, 1965 – 12/1966)

Lê Văn Mây (Phượng Ngô 2, 1967 – 1975)

Các phó Chủ tịch gồm:

............................

............................

UBHC xã đã kịp thời ra các chỉ thị thực thi nhiệm vụ xây dựng hậu phương sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, chi viện tiền tuyến có hiệu quả. Trong đó, nổi bật là công tác phòng tránh an toàn, đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất tòng quân, dân công vận tải thời chiến, phát triển VH – XH đảm bảo tính mạng tài sản của nhân dân.

Đáng quan tâm là bộ máy chính quyền đi vào hoạt động đồng bộ mặc dù lúc này, trụ sở UBHC xã phải sơ tán vào nhà dân, nhiều công việc đột xuất diễn ra nhưng sự thống nhất trong quản lý, chỉ đạo thực thi các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ, các Nghị quyết của đảng bộ, của HĐND, đã được chấp hành một cách triệt để, nhanh nhạy, sáng tạo, sát hợp với hoàn cảnh chiến tranh như quản lý hộ khẩu, nhân khẩu, quản lý ngành nghề và thực hiện các nghĩa vụ Nhà nước...

Sự phối hợp giữa chính quyền với các đoàn thể quần chúng phát huy trong chiến tranh. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, vai trò các đoàn thể trở thành các lực lượng xung kích, thúc đẩy các hoạt động xây dựng hậu phương vững mạnh.

+  Mặt trận Tổ quốc xã : Do các đồng chí sau làm trưởng ban:

.....................

Nổi bật trong hoạt động mặt trận thời kỳ này là công tác “họp làng bàn việc nước”, động viên phong trào tòng quân, dân công vận tải, làm nghĩa vụ Nhà nước và phát triển khối đoàn kết toàn dân ở địa phương.

Các tổ chức thành viên của mặt trận đã phát động được nhiều phong trào thi đua ái quốc, rầm rộ, có chất lượng cao ở địa phương.

+ Đoàn TNLĐ sau là Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh : do các đồng chí sau được bầu làm Bí thư gồm:

Nguyễn Văn Hợi (Nghĩa Lập, 1965 – 12/1967)

Lường Văn Yến (Nghĩa Lập, 1968 – 12/1970)

Lường Thị Cản (Phượng Ngô 1, 1971 – 1973)

Nguyễn Hữu Cầu (Nghĩa Phú, 1973 – 1974)

Lường Văn Cường (Nghĩa Phú, 1974 – 1975)

Trong chiến tranh, Đoàn có phong trào “Ba sẵn sàng” theo chủ trương của Trung ương Đoàn phát động gồm:

- Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào mà Tổ quốc cần đến.

- Sẵn sàng nhận bất cứ việc gì mà tổ chức giao cho.

- Sẵn sàng học tập và rèn luyện thể chất.

Phong trào trên thực sự đã phát huy được vai trò xung kích, đội quân hậu bị của Đảng. Với phong trào này, Đoàn xã đã khơi dậy một cách tự giác tinh thần làm chủ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ của Đoàn viên trong thời kỳ mới. Nỗi rõ là đợt học tập và phát động xung phong nhập ngũ vào năm....., sau khi học tập lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh có............... đoàn viên đã làm đơn xung phong vào chiến trường. Nếu tính cả thời kỳ chống Mỹ thì xã nhà đã có ...... Thanh niên vào bộ đội và TNXP, một lực lượng hùng hậu, rất đáng tự hào, cung cấp cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Bên cạnh đó, tại hậu phương ba cuộc cách mạng ở nông thôn (CMQHSX, CMKHKH, CMTTVH) đã đặt lên vai người đoàn viên chủ yếu là nữ một nhiệm vụ không kém phần nặng nề. Nhưng tất cả đều “sẵn sàng” làm tốt mọi trọng trách được giao. Trong phục vụ chiến đấu ở quê hương nhiều tấm gương Thanh niên anh dũng bất khuất trước bom đạn kẻ địch đã để lại nhiều gương sáng sống mãi trong lòng nhân dân xã nhà. Đó cũng là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà thế hệ Thanh niên trong xã đã phát huy trước sự sống còn của dân tộc.

+ Hội phụ nữ xã : do các đồng chí được bầu làm Bí thư gồm:

Lường Thị Thứ (Phục Lễ, 1965 – 1966)

Lê Thị Lỡ (Phượng Ngô 1, 1967 – 1968)

Lê Thị Phương (Phục Lễ, 1969 – 1970)

Lê Thị Vang (Phượng Ngô 2, 1971 – 1972)

Nguyền Thị Lịch (Nghĩa Lập, 1973 – 1974)

Nguyễn Thị Mởn (Nghĩa Lập, 1975)

Cùng với phong trào “Ba sẵn sàng” của Thanh niên, thời kỳ này hoạt động nổi bật của Phụ nữ là phong trào “Ba đảm đang” gồm:

- Đảm đang sản xuất và công tác

- Đảm đang chiến đấu và phục vụ chiến đấu

- Đảm đang gia đình.

Với phong trào trên, toàn xã đã huy động được hết thảy phụ nữ vào công cuộc xây dựng hậu phương vững mạnh. Nhiều chị có mặt trong đội hình dân quân du kích, trong tổ chức các đoàn thể xã hội, phục vụ sản xuất và chiến đấu một cách kiên cường dũng.

Phong trào thi đua cấy nhanh, cấy thẳng hàng, làm phân bón, trừ sâu keo chăm sóc đồng ruộng luôn là nơi hội tụ gắn bó của chị em. Những cánh đồng 5 tấn, mang tên Điện Bàn, Nguyễn Văn Trỗi trở thành điểm hẹn của lớp lớp phụ nữ.

Một lực lượng phụ nữ có đến ..... chị em đã được nhân dân bầu làm đại biểu HĐND xã, uỷ viên BCH các đoàn thể, có người chịu trách nhiệm “đứng mũi chịu sào” của nhiều công tác lớn lao trong xã.

Hàng chục chị em là dân quân mạnh, là chiến sĩ quyết thắng, có người đã hy sinh anh dũng cứu dân, cứu tài sản nhà nước, có người được thưởng huân chương chiến công tại chỗ là chiến sĩ dân công giỏi, là kiện tướng làm phân, là xã viên sản xuất giỏi,... và là chủ gia đình văn hoá nuôi con khỏe dạy con ngoan...

Thành tích “ba đảm đang” của Hội phụ nữ xã nhà thật xứng đáng “làm rạng rỡ truyền thống của phụ nữ Việt Nam, dũng cảm, đảm đang” như lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đội dân quân gái huyện nhà bắn rơi máy bay Mỹ năm 1967.

Trong 10 năm chống Mỹ cứu nước, Hội phụ nữ xã nhà đã được tặng thưởng nhiều giấy khen, thư khen, bằng khen, cờ luân lưu của các cấp chính quyền, ngành và đoàn thể cấp trên từ huyện, tỉnh đến Trung ương và cá nhân hội viên phụ nữ có .... người được thưởng Huân chương chiến công ?.

+  Hội nông dân tập thể:

Hội trưởng Hội nông dân tập thể từ 1965 đến 1975 do ông Lê Văn Phớp chủ nhiệm HTX đảm trách.

Bước vào chiến tranh, Hội Nông dân tập thể xã thực sự đóng vai trò xung kích hùng hậu trong “sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, giao thông vận tải giỏi”.

Ngay từ cuối năm 1965, khi được học tập tài liệu “ôn nghèo gợi khổ” do Tỉnh uỷ đề ra, phong trào nông dân trong xã dấy lên với lòng biết ơn Đảng sâu sắc, đã nhanh chóng phát huy truyền thống yêu nước bằng các phong trào phòng tránh an toàn, động viên tòng quân, ra sức làm nghĩa vụ Nhà nước, chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở địa phương trong đó nổi bật là phong trào sản xuất thực hiện 3 mục tiêu trong nông nghiệp, giành 5 tấn/ha trên đồng ruộng quê hương.

Khẩu hiệu “mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” thôi thúc lớp lớp xã viên HTX sôi nổi thi đua làm thuỷ lợi, phân bón, cải tiến KHKT, chăm sóc cây trồng, thu hoạch, kịp thời vụ. Trong những đợt làm thuỷ lợi toàn xã đã huy động hàng trăm nông dân làm việc nhiều ngày, đào đắp hàng nghìn mét khối đất trên cánh đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Những ngày cao điểm địch đánh phá ác liệt, phong trào sản xuất ban đêm được các chi hội tổ chức, thu hút đông đảo hội viên hăng say tham gia đảm bảo canh tác cũng như thu hoạch kịp thời vụ.

Bên cạnh đó, các phong trào giao thông vận tải thời chiến dân công đường gần, đường xa, phong trào đắp đê, chống úng, chống hạn, chống địch đánh phá, phong trào tương trợ sản xuất cho các đơn vị bạn... đều được hội phát động khẩn trương đóng góp ngày công và cả lương thực, thực phẩm đáp ứng yêu cầu đợt xuất trong chiến tranh.

Mười năm liền, hội nông dân tập thể xã nhà đã góp phần to lớn, có hiệu quả cao vào việc xây dựng hậu phương chống Mỹ cứu nước, được UBMTTQ và hội cấp trên tặng giấy khen, bằng khen và thưởng nhiều hiện vật có giá trị gồm các loại hàng hoá phân phối lúc này như xe đạp thống nhất, chăn bông, vải kaki cho nhiều chi hội, hội viên tiên tiến xuất sắc.

+ Hội phụ lão xã : có phong trào “Ba mẫu mực”.

Nổi bật là việc chăm lo đảm bảo phòng không nhân dân như trồng cây nguỵ trang, đan mũ rơm, làm vành lá nguỵ trang cho các cháu đi học. Nhiều dụng cụ tải thương cáng, băng câu bắt chữa cháy... được hội tích cực đóng góp.

Bên cạnh việc động viên con cháu tòng quân, dân công vận tải, trông coi gia đình, chăn nuôi .......làm đất phần tram của HTX, trồng rau mầu, Hội còn tổ chức được nhiều hội viên tham gia tuần tra làng xóm, bảo vệ kho tàng cơ quan, bộ đội.

+ Hội mẹ chiến sĩ đi sâu vào công tác thực hiện chính sách hậu phương quân đội như động viên thăm hỏi các gia đình có con em ở chiến trường, gia đình thương binh, liệt sĩ, quyên góp lương thực, thực phẩm, dụng vụ sinh hoạt, cứu hộ, cứu nạn các gia đình bị đánh phá, ủng hộ quà bánh, chăm sóc thương binh khi có chiến sự xảy ra, bố trí nơi ăn chốn ở cho bộ đội đóng quân trên địa bàn...

+ Đội thiếu niên tiền phong có phong trào thi đua thực hiện khẩu hiệu “người tốt việc tốt” với 5 lời dạy của Bác Hồ, tổ chức các cuộc cổ động tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, các tin thắng trận ở 2 miền Nam – Bắc.

Có thể nói trong chiến tranh, vai trò làm chủ của các đoàn thể chính trị các tổ chức quần chúng, xã hội đã được phát huy cao độ trong các tầng lớp nhân dân. Đây là điểm tựa vững chắc cho công cuộc xây dựng hậu phương chống Mỹ cứu nước ở xã nhà giành thắng lợi vẻ vang.

VI. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG

Từ năm 1965 đến năm 1975, qua các kỳ đại hội Đảng bộ, Bí thư Ban chấp hành Đảng bộ gồm:

Nguyễn Như Đăng (Nghĩa Lập, 1965 – 1968)

Lương Văn Vạn (Nghĩa Phú, 2/1968 – 12/1968)

Nguyễn Như Đăng (Nghĩa Lập, 1968 – 1975)

Phó bí thư và trực Đảng gồm:

..........................................

Quán triệt 2 nhiệm vụ chiến lược của Đảng là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Trong thời kỳ vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh, đảng bộ luôn coi trọng bồi dưỡng năng lực vận dụng đường lối chủ trương của Đảng vào địa phương kịp thời, đúng đắn, sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ chính trị lúc này một cách phù hợp có hiệu quả.

Công tác huấn luyện bồi dưỡng đảng viên trước bối cảnh mới được đặt ra thường xuyên, nghiêm túc. Trong đó nổi lên là phong trào xây dựng đảng bộ, chi bộ đảng, đảng viên “Bốn tốt” theo chủ trương của Trung ương đề ra như học tập tốt, rèn luyện tốt, công tác quần chúng tốt, lãnh đạo chỉ đạo tốt.

Để nâng cao sức chiến đấu của Đảng, đảng bộ luôn đề ra yêu cầu “tự phê bình và phê bình” làm phương châm sinh hoạt đảng đối với từng cấp uỷ, từng đảng viên.

Nhờ vậy, những tháng năm có chiến tranh khốc liệt, thường xuyên phải “đối đầu với giặc” và có lúc phải “đối mặt với thiên tai” khắc nghiệt, nặng nề nhưng tuyệt đại bội phận cán bộ, đảng viên đã thể hiện được tinh thần cách mạng tiến công, xung pha, gương mẫu trước quần chúng.

Nổi bật là các phong trào chiến đấu phục vụ chiến đấu đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, phong trào cải tiến quản lý HTX, phong trào tòng quân, dân công vận tải giao thông thời chiến, đắp đê chống lụt, chống bão, hạn, chống địch đánh phá trên địa bàn xã và những vùng phụ cận. Trên các mặt trận nóng bỏng này, hầu hết đảng viên đều tỏ rõ được phẩm chất cách mạng kiên cường, tiên phong gương mẫu với tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Công tác phát triển Đảng luôn được quan tâm đúng mức. Khoảng mười năm có chiến tranh cũng là mười năm chủ nghĩa anh hùng cách mạng liên tục được nẩy nở trên mảnh đất quê hương giàu truyền thống yêu nước chống ngoại xâm với hàng loạt những nhân tố mới, điển hình mới ra đời trong các đoàn thể quần chúng nhất là đoàn Thanh niên lao động xã với các phong trào cải tiến KHKT, thâm canh tăng năng suất, phong trào chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở cơ sở. Những nhân tố mới đã được Đảng bộ chăm lo bồi dưỡng và có người được kết nạp ngay tại trận chiến đầu như ......... ? trong đợt............

Từ năm 1966 đến 1975, kết thúc chiến tranh, đảng bộ đã kết nạp được ..... quần chúng ưu tú, chủ yếu là đoàn viên Thanh niên lao động đứng vào hàng ngũ của Đảng, đưa tổng số đảng viên xã nhà đến 1975 lên ......... đảng viên sinh hoạt tại .............. chi bộ.

Tổng kết cuộc vận động xây dựng Đảng theo tiêu chuẩn “bốn tốt” hàng năm trong thời kỳ này, quân bình đảng bộ có 90% chi bộ và đảng viên đạt tiêu chuẩn trên. Nhiều năm liền đảng bộ được Huyện uỷ công nhận là “Đảng bộ 4 tốt”.

Đồng thời qua cuộc vận động xây dựng Đảng, số đảng viên thoái hoá, biến chất cũng kịp thời được đấu tranh, giáo dục, giúp đỡ và xử lý kỷ luật nghiêm minh, tạo lòng tin đối với quần chúng về sự trong sạch vững mạnh của Đảng.

3. Công tác chi viện sức người, sức của giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc:

 Phong trào tòng quân:

Chiến tranh phá hoại miền Bắc bùng nổ, hoà với phong trào cả nước lên đường chống ngoại xâm thì đây cũng là thời kỳ trong x㠓nhà nhà ra quân”, “toàn dân đánh giặc” diễn ra sôi động.

Từ những năm 1963 – 1964, một số bộ đội quê hương đang tại ngũ và số cán bộ cơ sở được cử đi B (tức vào Nam chiến đấu) đến đầu năm 1965 xã nhà đã có …… Thanh niên lên đường nhập ngũ. Cuối năm 1965, qua đợt sinh hoạt chính trị “ôn nghèo gợi khổ”, một lực lượng lớn thanh niên xã nhà có …………. đoàn viên xung phong đi bộ đội và cả những quân nhân thời chống Pháp phục viên đã xung phong tình nguyện tái ngũ.

Năm 1965 cũng là thời điểm mở đầu nhiều cuộc đánh phá của địch vào địa bàn xã liên tục và khốc liệt. Quán triệt lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 17 tháng 7 năm 1966, “Không có gì quí hơn độc lập tự do”, khẳng định ý chí quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, Đảng bộ đã ra lời kêu gọi các thế hệ trẻ lên đường, lớp lớp Thanh niên xã nhà đã làm đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong đợt phát động năm 196……., toàn xã đã có ………. đoàn viên Thanh niên viết quyết tâm thư lên đường giải phóng miền Nam bảo vệ Tổ quốc. Nhiều con em có cha mẹ già yếu vẫn hăng hái xung phong, nhiều gia đình có con độc nhất vẫn tự nguyện xông ra tiền tuyến. Có gia đình “cha trước con sau” đều lần lượt cầm súng nhập ngũ. Có gia đình cả anh em, cha con đều cùng chung một chiến hào chống Mỹ. Trong lớp lớp Thanh niên “Sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, lúc này, xã nhà có ……..người tham gia bộ đội trong đó có ………. gia đình có 3 con vào bộ đội, …….. gia đình có 2 con đều trong quân ngũ thuộc nhiều đơn vị lục quân, hải quân, không quân, pháo binh, công binh thuộc nhiều chiến trường miền Nam B ngắn, B dài, chiến trường Lào, Căm phu chia, chiến trường miền Bắc, hầu hết con em xã nhà đã chiến đấu dũng cảm, oanh liệt.

Theo thống kê, toàn xã ở thời chống Pháp có 10 liệt sĩ, đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, xã nhà có tổng cộng 124 liệt sĩ, trong đó 6 gia đình có 2 con là liệt sĩ, …….. gia đình con độc nhất là liệt sĩ, đồng thời có hàng chục thương, bệnh binh và nhiều quân nhân bị nhiễm chất độc da cam.

* Phong trào dân công vận tải thời chiến.

Quán triệt khẩu hiệu “Ba giỏi” do Tỉnh uỷ phát động gồm “sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, giao thông vận tải giỏi”, công tác này được Đảng bộ hết sức quan tâm.

Từ tháng 6 năm 1966, giữa lúc chiến tranh ác liệt, được lệnh của tỉnh và huyện, toàn xã đã huy động một lực lượng dân công thuyền nan và xe đạp thồ, tham gia vận tải luân chuyển đường dài từ Thanh Hoá đến Quảng Bình. Lực lượng có …. người, hầu hết có tay nghề vững. Có người mặc dù gia đình neo đơn, có con ở chiến trường vẫn hăng hái ra đi.

Năm 1971 -1972, trong đợt dân công hoả tuyến phục vụ công trường đường 9 – Nam Lào, dân công xã nhà cũng có trên ……. người xung phong ra đi 18 tháng. Dưới sự chỉ đạo của đơn vị đoàn 559 ?, dân công trong xã đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhiều người được tuyên dương khen thưởng là “Dũng sĩ cấp ưu tú”.

Ngoài lực lượng dân công hỏa tuyến, ở địa phương các phong trào giao thông vận tải đáp ứng yêu cầu giải phóng nhanh hàng hoá, xe pháo bị ách tắc bởi bom đạn địch trên Quốc lộ 1A, cũng như trên các tuyến chiến lược giao thông vào Nam, đã thu hút hàng trăm lượt dân công của xã.

Đồng thời một lực lượng dân công quân bình có khoảng ………. người, trong nhiều đợt đã được huy động đi đào đắp các công sự ở Hàm Rồng, cầu Tào, xây dựng đường chiến lược ở miền biển, đường giao thông đi sân bay Sao Vàng từ Triệu Sơn đến Thọ Xuân. Toàn xã cũng đã cung cấp hàng chục lao động có tay nghề mộc, nề tham gia các công trình kinh tế kết hợp với quốc phòng ở miền Bắc.

Ra đi làm nhiệm vụ, dân công xã nhà luôn xứng đáng là cờ đầu trong phong trào thi đua “Ba giỏi” của tỉnh phát động và đã được UBHC huyện, tỉnh khen thưởng là đơn vị xuất sắc.

Tại công trường đê Thắng Mỹ của huyện được tổ chức vào tháng 6 năm 1972 tại Hoằng Quang  đã có nhiều người được huy động tham gia. Công trường được triển khai đúng vào lúc giặc Mỹ vừa rải thảm B52 ở Hàm Rồng và Hoằng Phượng. Dưới chân cầu Hàm Rồng và đoạn tả ngạn sông Mã thuộc Hoằng Long, Hoằng Quang là nơi tổ chức đào đắp mặt đê rộng 4 - 5 m, cao 4 - 5m, nhằm đề phòng sự đánh phá bằng B52 của địch vào đê điều. Tất cả lực lượng tham gia công trường đều được biên chế thành đơn vị vũ trang, tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm ngặt. Mỗi xã là 1 đại đội với nhiều trung đội thép đào đắp, hậu cần.

Con số xã nhà được biên chế thành một đại đội chia ra làm … trung đội. Số đảng viên có trên ….. người được lập thành “chi bộ thép” là hạt nhân lãnh đạo từ trung đội đến đại đội.

Ngoài số lao động tham gia trực tiếp ở công trường, xã đã huy động nhiều nhân vật lực lên công trường trước, làm đủ cho 3 người 1 hầm chữ A tránh bom đạn dịch khi có máy bay giặc bắn phá.

Qua 2 tháng dồn sức lao động kiên cường, dũng cảm xã nhà đã hoàn thành số lượng đào đắp gần vạn khối đất đê vượt chỉ tiêu 15% trên giao.

Ngày tổng kết công trường, đơn vị xã được UBHC huyện, ngành thuỷ lợi tặng …… giấy khen cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. ……. người được tuyên dương “Dũng sĩ diệt Mỹ” ngay tại công trường.

* Phong trào chi viện của cải vật chất:

Mười năm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra trên cả hai miền Nam – Bắc, thực hiện khẩu hiệu “Lúa không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, ngoài lực lượng bộ đội, TNXP, dân công vận tải chi viện cho chiến trường, xã nhà đã huy động một khối lượng vật chất đáng kể cung cấp cho tiền tuyến miền Nam anh hùng.

Trừ năm 1973, bão lụt nặng, mất trắng thu hoạch, còn hàng năm bình quân trong thời kỳ 1965 – 1975, toàn xã đã huy động ….. tấn thóc, hơn ….. tấn thực phẩm chủ yếu là lợn kịp chi viện cho chiến trường, đảm bảo hoàn thành và vượt mức kế hoạch trên giao. Trong công tác này HTX nông nghiệp đã đóng vai trò hết sức quan trọng thâm canh tăng sản lượng, cân đối thu hoạch, bảo quản, vận chuyển, chi viện chu đáo kịp thời.

Riêng phong trào “Hoằng Hoá - Điện Bàn kết nghĩa”, trong hơn 10 năm từ 1963 đến 1975, xã nhà đã quyên góp nhiều tiền bạc, quần áo, giấy bút, quà bánh thuốc men, tổng trị giá tương đương gần 10 tấn thóc ủng hộ đồng bào nơi tuyến lửa anh hùng.

*        *

*

Nhìn lại thời gian chống Mỹ cứu nước diễn ra trên cả 2 miền Nam Bắc, trong đó gần 10 năm nhân dân ta phải đối đầu trước cuộc chiến tranh leo thang phá hoại do giặc Mỹ gây ra thử thách rất ác liệt nhưng chiến thắng rất vẻ vang.

Trong khoảng thời gian ấy, kẻ thù xâm lược đã gây bao đau thương tổn thất cho nhân dân ta, cả tính mạng và tài sản, một cách vô cùng dã man, tàn khốc.

Song, dưới sự lãnh đạo kiên cường sáng suốt của Đảng, Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân xã nhà đã vượt lên muôn vàn gian khổ, hy sinh, góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc trên mảnh đất quê hương yêu dấu, đồng thời ra sức xây dựng xã nhà thành hậu phương vững mạnh trong công cuộc kháng chiến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thành quả to lớn là: Đảng bộ đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo không những về sản xuất chiến đấu kiên cường mà còn động viên chi viện cao nhất sức người, sức của một cách nhanh chóng cho tiền tuyến lớn anh hùng.

Toàn xã đã có ……. Thanh niên nam nữ lên đường vào Nam chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Nhiều gia đình đã tiễn đưa 2 - 3 con đi chống Mỹ cùng một thời kỳ. Đồng thời gần 1000 lượt lao động đi dân công vận tải đường bộ, đường thuỷ với chiều dài từ Bắc Trung Bộ đến tuyến lửa Trường Sơn.

Trong quá trình chiến đấu và phục vụ chiến đấu, toàn xã đã có trên 150 liệt sĩ, gần 100 thương binh, bệnh binh và  nhiễm chất độc hoá học.

Ngoài ra trong 10 năm có chiến tranh, một khối lượng lớn tổng cộng …….. tấn thóc và trên 1000 tấn thực phẩm trong đó chủ yếu là lợn, gà lần lượt đưa đến chiến trường miền Nam một cách kịp thời, đảm bảo vượt mức kế hoạch trên giao.

Đi đôi với làm nghĩa vụ Nhà nước, đời sống nhân dân cũng được cải thiện một phần. Đến kết thúc chiến tranh 1975, tỷ lệ hộ đói nghèo được giảm xuống còn 30%. Trình độ dân trí được nâng cao với tỷ lệ 80% con em xã nhà đã được học tập ngày một lên cấp, trong đó 20% số học sinh đỗ tốt nghiệp PT cấp 3 được vào Đại học.

Kết thúc chiến tranh, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Hoằng Anh trong quá trình chiến đấu và xây dựng đã được thưởng:

      + …. Huân chương độc lập hạng nhì

      + … Huân chương độc lập hạng ba

      + … Huân chương chiến công hạng hai

      + …. Huân chương lao động hạng nhì

      + 1 Bằng khen của HĐBT

      + …Bằng khen của …….

      + …. cờ thưởng của ….

      + … cờ thi đua của huyện và tỉnh

      + …. năm là đơn vị quyết thắng.

………………………

Bên cạnh đó toàn xã đã được chính quyền, ngành, đoàn thể các cấp từ Huyện đến Trung ương tặng ……. giấy khen, bằng khen, cờ thưởng luân lưu thi đua cho các đơn vị tập thể và cá nhân về các mặt trong phong trào xây dựng hậu phương đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Tất cả đã viết nên bài ca chủ nghĩa anh hùng Cách mạng để lại dấu son tô thắm lịch sử Đảng bộ xã nhà trên chặng đường tiếp nối.

Chương V: ĐẢNG BỘ XÃ HOẰNG LƯU LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ XÃ HỘI, AN NINH, QUỐC PHÒNG (1975-1986)

          I. Khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội:.

          Ngày 30/4/1975 cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân dành thắng lợi, thống nhất đất nước.

          Tháng 12/1976 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V đề ra chiến lược phát triển kinh tế và kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ 2 (1976-1980). Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và đề ra đường lối chung của cách mạng XHCN trong giai đoạn mới ở nước ta là:

          “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, Cách mạng KH-KT, Cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó Cách mạng KH-KT là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời ký quá độ lên CNXH; xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN; xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới XHCN; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và XHCN; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH” [13]

          Tháng 5/1975 Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ VIII được tổ chức.

          Tháng 10/1976 Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Hoằng Hoá lần thứ XV được triệu tập đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong tình hình mới.

          Tiếp thu tinh thần Nghị quyết Đại hội đảng các cấp, Đảng bộ và nhân dân xã Hoằng Lưu đã không ngững phấn đấu và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về nhiều mặt:

Trong chiến tranh phá hoại, hàng trăm hố bom đạn do giặc Mỹ để lại rải rác khắp làng xóm, đồng ruộng, đường giao thông, hàng chục nhà cửa bị sụp đổ. Đồng thời hàng nghìn khối đất hầm hào ụ luỹ được nhân dân ta đào đắp để thực hiện phòng tránh an toàn, đến mùa xuân năm 1973, khi Hiệp định Pari được ký kết, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam thì Đảng bộ và nhân dân xã nhà đã kịp thời huy động trên 1000 lao động phát động trong gần một tháng để san lấp mặt bằng, sửa chữa nhà cửa, đường sá, dựng lại cuộc sống trong hòa bình.

          Đầu năm 1975, đất nước được thống nhất, về cơ bản nhân dân ta đã khắc phục có hiệu quả việc hàn gắn vết thương chiến tranh. Trên cơ sở đó, Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân đi sâu vào nhiệm vụ tập trung cho sản xuất, xây dựng và bảo vệ công cuộc cách mạng ở thời kỳ mới.

          1. Về tổ chức lại sản xuất theo hướng tiến lên sản xuất lớn XHCN:

* Xây dựng, củng cố, phát triển HTX bậc cao toàn xã:

Hợp tác xã bậc cao toàn xã được ra đồi từ cuối năm 1969, đến năm 1975 đã  được củng cố, phát triển một bước.

HTX bậc cao toàn xã  lúc này có khoảng 2.400 người, trong đó 80% lao động chuyên phụ trách việc trồng trọt, 20% lao động phụ trách chăn nuôi tập thể, thủy lợi, các đội chuyên và các ngành nghề phụ .

Chủ nhiệm HTX bậc cao toàn xã từ 1975 đến 1986 lần lượt gồm:

- Lê Văn Khớp (Phượng Ngô 1)

- Cao Văn Tởi (Nghĩa Phú)

HTX bậc cao ra đời đã kết hợp việc hàn gắn vết thương chiến tranh, tiến hành việc di dời mồ mả, qui hoạch lại đồng ruộng, khu dân cư, mở rộng diện tích canh tác tăng khá.

Để tiến lên sản xuất lớn XHCN, HTX bậc cao qui mô toàn xã đã xây dựng tập trung nhà kho, sân phơi, lò ủ giống, trại ủ phân, trại chăn nuôi và chia lại địa giới đồng ruộng theo khu vực dân cư thuộc các đội sản xuất đi sâu vào hướng chuyên môn hoá

Trong cải tiến quản lý HTX bậc cao, công tác thuỷ lợi vẫn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu. Toàn xã khi đi vào củng cố, phát HTX bậc cao, Đội thuỷ lợi 202 - 201, ngoài việc chăm lo tu sửa các hệ thống mương chìm, toàn xã đã có trên 2000m kênh mương N24 dẫn nước từ trạm bơm Hoằng Vinh về tạo ra hệ thống “dẫn thuỷ nhập điền” rộng rãi trong xã.

Ngoài thủy lợi, các loại giống lúa mới có năng suất cao lúc này như X11, X14, V10, NN22, NN8, NN5 cấy được cả 2 vụ chiêm mùa cũng kịp đưa vào sản xuất đại trà trên đồng ruộng. Các biện pháp kỹ thuật như cấy dày, cấy thẳng hàng được duy trì và tổ chức thành Hội cấy dày, cấy đúng kỹ thuật do các đoàn thể quần chúng phát động, triển khai.

Nguồn phân bón nổi bật là phân bèo dâu được đưa vào nuôi thả phổ biến khắp các cánh đồng có nước ngâm chân.

Trong công tác chăn nuôi thì đàn lợn lai kinh tế chủ yếu là lợn đại bạch được du nhập, chăn nuôi nhiều ở cả 2 khu vực HTX và hộ gia đình. Thời gian này, mỗi hộ nuôi ít nhất cũng có 1 - 2 con đại bạch, hộ nhiều nhất có tới trên chục con, vượt mức kế hoạch đặt ra và so với thời gian có chiến tranh thì tăng lên rõ rệt. Bình quân qua hai kế hoạch nhà nước 1976 - 1985, đàn lợn toàn xã xấp xỉ 1500 con/năm với trọng lượng xuất chuồng 40kg/con trở lên. Có năm cao nhất như 1979 đạt 1700 con. Phong trào chăn nuôi gà vịt nhất là gà Tam hoàng, vịt Bắc Kinh chiếm số lượng lớn trong tổ chức chăn nuôi của cộng đồng, hàng năm không dưới 1 vạn con trong toàn xã. Đàn trâu bò cũng có số lượng lớn .... con, trong đó có trên 100 trâu, bò cày kéo, kết hợp sinh sản. Toàn xã đã có nhiều hộ nuôi bò lai sin có trọng lượng lớn.

Những năm 1978 – 1980, tỉnh nhà có HTX Nông nghiệp Định Công, Thiệu Yên (nay là Yên Định) , mô hình sản xuất lớn trong nông nghiệp của miền Bắc lúc này, đã thu hút đông đảo các HTX bậc cao tham quan, học tập.

Thời gian Đại hội ? Sau đại hội, Đảng bộ và HTX bậc cao xã nhà đã lần lượt cử cán bộ về Định Công khảo sát, học tập làm theo. Nhiều Thanh niên có trình độ văn hóa cấp II, cấp III, được cử đi học chuyên môn về tổ chức sản xuất lớn.

Khẩu hiệu phát triển kinh tế lúc này do Huyện uỷ phát động là “Muốn no trồng mầu, muốn giầu trồng cây, nuôi cá, muốn khấm khá làm vụ đông” và “lợn lai, khoai tây, lúa xuân” được đi vào cuộc sống nhân dân một cách nhanh chóng, sinh động qua sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ, đã làm tăng việc chuyển đổi cây trồng vật nuôi và tăng hệ số lần canh tác trên mỗi diện tích.

Trong các năm 1976 - 1980 toàn xã đã tích cực khai hoang phục hoá các cồn bãi được trên 10 ha. Việc phát động làm vụ đông thuộc các cánh đồng màu đã đưa diện tích gieo trồng vụ đông hàng năm lên tới 70 - 80 ha. Ngoài giống khoa lang là chủ yếu,

giống là và khoai tây đã được du nhập vào sản xuất vụ đông mà trước đó hầu như nhân dân không quan tâm.

          Năm 1981, khi thực hiện chủ trương xuất khẩu lạc, toàn xã mới có 25 ha, đến năm 1986 diện tích lạc được nâng lên 90 ha. Sản lượng năm này đạt 80 tấn lạc củ, đáp ứng kế hoạch xuất khẩu của Nhà nước và cải thiện một phần đời sống của nhân dân.

Phong trào đào ao thả cá theo chủ trương xây dựng “Ao cá Bác Hồ” cũng được tiến hành mạnh từ đây. Ở mỗi đội sản xuất HTX, trường học, gia đình có điều kiện đã dành ra diện tích nhất định để đào ao thả cá (xã ta có không ?)

Toàn HTX đã đào ... ao lớn tại ... thôn: .......... Mỗi ao có diện tích chừng 1000m 2, nuôi thả nhiều giống cá lai: Chép, Trôi, Trắm.....

Song giữa lúc nhân dân ta đang đẩy mạnh cải tiến quản lý HTX bậc cao, thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ 2 (1976 – 1980) thì thiên tai lại ập đến.

Nạn lụt năm 1978 diễn ra làm thất thu hàng nghìn ha nông nghiệp trong huyện. Ở Hoằng Anh lụt lội cũng làm mất trắng vụ mùa, thu hoạch không đáng kể.

Tiếp theo tháng 9 năm 1980, một cơn bão lớn lại đổ bộ vào Thanh Hoá trên diện rộng. Bão kèm theo lụt đã cuốn trôi hết diện tích lúa đồng sâu và một nửa diện tích đồng màu của xã. Nhiều nhà cửa của dân và nhiều cơ sở lán trại đội sản xuất HTX bị sụp đổ.

Thiên tai lẫn địch hoạ liên tiếp xẩy ra. Năm 1978 – 1979, cuộc chiến tranh biên giới do các thế lực phản động quốc tế gây ra ở cả 2 miền thuộc 2 phía Tây Nam và Tây Bắc Tổ quốc đã chi phối nhiều hoạt động sản xuất xây dựng ở địa phương.

Mặc dù vậy, với tinh thần “Tất cả vì Tổ quốc XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân”, được Huyện uỷ lãnh đạo sát sao, Đảng bộ và nhân dân xã nhà đã gồng mình vượt lên hết thử thách này đến thử thách khác để đảm bảo ổn định đời sống quần chúng, vừa khắc phục hậu quả thiên tai, vừa chi viện sức người sức của cho cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới.

Ngoài những đột xuất liên tục trên đây, còn một trở ngại to lớn tìêm ẩn lâu dài là cơ chế bao cấp kìm hảm sức sản xuất.

HTX bậc cao ra đời trong điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn nên phải làm đi làm lại nhiều lần nhà kho, sân phơi, lúc tập trung, lúc phân tán, gây lãng phí tốn kém và do trình độ quản lý bất cập của đội ngũ cán bộ đảng viên trước cơ chế bao cấp ngày một phình to, dẫn đến sức lao động của xã viên bỏ ra nhiều nhưng mức cải thiện dân sinh lại bị hạn chế.

Mức ăn chia phân phối lúc này chỉ đạt không đầy 20 kg lương thực qui thóc/tháng cho mỗi nhân khẩu HTX. Nó đã đụng chạm đến quyền lợi người lao động. Do vậy một bộ phận không nhỏ lao động thờ ơ với HTX, bỏ đi kiếm công ăn việc làm nơi này nơi khác, nhất là đi vùng Tây nguyên để sinh sống. Sự khủng hoảng lao động diễn ra càng làm cho phong trào xây dựng HTX bậc cao bế tắc, khó khăn lúng túng kéo dài từ 1978 đến 1980.

Năm 1981, bước vào thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ 3 (1981–1985), Trung ương Đảng đã phát hiện ra vấn đề và thật vô cùng phấn khởi, ngày 12 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 100 về “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động” trong các HTX. Chỉ thị 100 đã thổi bùng lên luồng sinh khí mới trong đời sống xã hội ở nông thôn cũng như thành thị.

Sau đó, tháng 3 năm 1982 nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đề ra những nhiệm vụ chủ yếu về kinh tế - xã hội trong 5 năm 1981 - 1985 và những năm tiếp theo là:

“Đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu nhất, dần dần ổn định, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu về ăn  mặc,  học hành, chữa bệnh, về ở, đi lại, về chăm sóc trẻ em và các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu khác.

Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời tăng thêm trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác và chuẩn bị cho sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của công nghiệp nặng trong chặng đường tiếp theo” [14]

Quán triệt Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, Đảng bộ đã triển khai từng bước chỉ đạo việc kiện toàn củng cố HTX bậc cao phù hợp với điều kiện sản xuất và trình độ quản lý của cán bộ. Từ tháng .../1981, vận dụng Chỉ thị 100, HTX toàn xã được điều chỉnh theo hướng 5 quản, 5 khoán trong đó tập thể đảm nhiệm 5 khâu: Đất, nước, giống, phân bón, phòng trừ sâu bệnh.

Sau khi điều chỉnh công tác khoán, quản theo Chỉ thị 100, Đại hội Đảng bộ xã đề ra Nghị quyết tăng cường củng cố HTX, nêu cao vai trò chủ động trong quản lý sản xuất được đề cao. Các khâu “khoán quản” trong nông nghiệp được áp dụng theo hình thức khoán sản phẩm theo việc là chính như khoán gieo trồng, làm phân, chăm sóc, trừ sâu bệnh, chăn nuôi. Phần chi phí sản xuất vẫn do HTX đảm nhận.

Do khoán quản được đề cao nên mọi hoạt động sản xuất xây dựng được đẩy mạnh liên tục trong từng hộ xã viên. Mạng lưới thuỷ nông được tăng cường. Vụ chiêm xuân năm 1984 tuy bị giá rét kéo dài nhưng nhờ có sự điều hành nhân lực và sự bố trí lại các khâu “khoán quản”, xã viên kiên trì gieo cấy nhiều lần nên không những đảm bảo cấy hết diện tích mà còn đẩy mạnh được sự chăm bón đã đưa lại thu nhập khá. Năng suất lúa vụ chiêm xuân 1984 đạt gần 3 tấn/ha/vụ. Hoa màu cũng cho thu hoạch cao. Tổng sản lượng lương thực trong 2 năm 1983 và 1984 đạt quân bình năm trên 1.500 tấn quy thóc.

Hai năm 1985 và 1986, qua các vụ sản xuất chính là lúa và các vụ sản xuất mầu với cơ chế “khoán quản” ra đời và gặp thời tiết thuận lợi nên tổng sản lượng lương thực hai năm ở thời gian này toàn xã đạt 1.600 tấn quy thóc, .Sản lượng màu đã chiếm tỷ trọng 5% tổng giá trị thu nhập. Từ kết quả trên bình quân dầu người trong xã thu nhập năm 1985 đạt ..... kg/người/năm, 1986 đạt .... kg/người/năm, .

Ngành tiểu thủ công nghiệp ở thời kỳ này được phát triển nhất là việc đan thảm, dệt cói vào năm 198... đạt trên 20.000 m2. Quân bình thời kỳ này, giá trị tiểu thủ công nghiệp đạt gần 1.500.000 đồng/năm, trong đó xuất khẩu đạt 1.200.000 đồng. Ngành xuất khẩu đã đem lại thu nhập cho mỗi khẩu trong xã đến 1985 đạt gần 400 đồng/người/năm.

Từ kết quả trên ngoài bình quân thu nhập cho mỗi người trong xã đạt trên ......kg lương thực quy thóc/năm ở thời kỳ này thì nghĩa vụ xã đóng góp cho Nhà nước đã đạt bình quân .... tấn lương thực quy thóc/năm, thực phẩm bình quân trên 60 tấn, vượt chỉ tiêu được giao.

+ HTX mua bán, trong điều kiện bao cấp, sự phát triển vốn chậm nhưng cũng đã có doanh số trung bình năm ở thời kỳ là ...... đồng, trong đó hàng công nghệ ...... đồng, hàng tự doanh ........ đồng. Số xã viên cũng được tăng lên ............ người. Chủ nhiệm HTX mua bán thời kỳ 1976 - 1986 lần lượt gồm:

................................

Thời kỳ này, HTX mua bán đảm nhận uỷ thác thu mua hàng nông sản theo giá thoả thuận của Mậu dịch quốc doanh và HTX mua bán huyện đã góp phần thúc đẩy việc sản xuất màu, lương thực và chăn nuôi gia súc, gia cầm trong cộng đồng dân cư.

+ HTX tín dụng do các ông lần lượt làm chủ nhiệm ở thời kỳ trên gồm:

.......................................

Từ năm 1976 đến 1986, HTX tín dụng đã động viên được .............. hộ gửi tiết kiệm bằng ..............% số hộ trong xã tham gia với số vốn cũng được tăng lên ............. đồng ngân hàng.

Với yêu cầu tổ chức lại sản xuất lớn trên địa bàn dân cư, số vốn trên đã đáp ứng kịp thời cho HTX nông nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nghề phụ và giúp xã viên mở rộng chăn nuôi, làm thủ công dân dụng, hàng xuất khẩu.

* Về công tác khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới, từ khi hoà bình thống nhất đất nước, đến năm 1985, toàn xã đã huy động được 9 đợt, gồm 181 hộ, với số khẩu gần 1.057 người đi định cư tại các cơ sở.

          Ngoài các địa điểm tập trung trên, một số hộ trong xã còn đi cấy cư lẻ tẻ tại một số nơi trong tỉnh và ngoài tỉnh như: Đắc Cơ - Buôn Mê Thuột, Bình Phước, Bình Dương và Miền Tây Nam Bộ. Phát huy truyền thống của những năm khai hoang trước, với tinh thần đoàn kết tương trợ, qua mỗi đợt định cư, nhân dân ta đều đóng góp công sức vận chuyển, tiễn đưa bà con đến nơi cư trú mới một cách an toàn, phấn khởi, góp phần mở mang vùng kinh tế mới.

 

2. CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA – Xà HỘI, AN NINH QUỐC PHÒNG VÀ TRẬT TỰ AN TOÀN ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN

* Về văn hóa xã hội:

                +  Ngành giáo dục phổ thông:

          Bước vào hoà bình thống nhất Tổ quốc, xã nhà có tổng số trên 1200 học sinh với 24 lớp học, trong đó có 13 lớp cấp I, 11 lớp cấp II. Các lớp học được dời từ các lán trại ở các khu dân cư ra học tập trung tại cơ sở cũ. Xã đã đầu tư kinh phí và nhân dân đóng góp xây dựng nâng cấp thành trường bán kiên cố đủ chỗ cho học sinh 2 cấp học 2 buổi trong ngày. Việc giảng dạy học tập ở các trường được thống nhất theo chương trình quốc gia do Bộ chủ quản qui định cả về sách giáo khoa, về tổ chức trường lớp, về chế độ thi cử. Từ 1975 - 1977, hiệu trưởng trường PT cấp 1 là thầy  Hoàng Khắc Nhự (Hoằng Thắng), Hiệu trưởng trường PT cấp II là thầy Nguyễn Viết Xuân (Quảng Trị)

          Năm học 1977 - 1978 cả 2 trường được sát nhập gọi là trường Phổ thông cấp I - II. Đến năm học 1983 - 1984, theo chủ trương cải cách giáo dục trường Phổ thông cấp I - II được gọi là trường Phổ thông cơ sở có từ lớp 1 đến lớp 9 trong đó hệ cấp I gồm từ lớp 1 đến lớp 5, hệ cấp 2 từ lớp 6 đến lớp 9, cả 2 hệ được học theo chương trình và sách giáo khoa cải cách.

          Thời kỳ 1977 - 1986 Hiệu trưởng trường Phổ thông ghép cấp I - II và sau là trường Phổ thông cơ sở lần lượt gồm các thầy giáo, cô giáo:

- Hoàng Khắc Nhự (Hoằng Thắng)

- Bùi Văn Vượng (Hoằng Thắng)

- Lương Bá Quyết (Hoằng Phong)

- Lương Văn Tao (Hoằng Lưu)

Việc tháp nhập 2 trường có thuận lợi về công tác xây dựng cơ sở vật chất về quản lý giáo dục nhưng cũng không ít khó khăn ách tắc như việc điều hành giờ lên lớp, giờ ra chơi của 2 cấp khác nhau bởi thời gian biểu tiết học và tâm sinh lý lứa tuổi. Song lãnh đạo nhà trường cùng tập thể hội đồng giáo viên đã từng bước khắc phục khó khăn trong sinh hoạt và lên lớp phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy của mỗi cấp.

Phong trào thi đua “hai tốt” của nhà trường vẫn được duy trì và phát triển. Các phong trào học tập trường tiên tiến lúc này là trường PTCS Hoằng Lộc, trường PTCS Hoằng Trinh được triển khai thường xuyên, nổi bật là phong trào “vở sạch chữ đẹp”, phong trào “giảng dạy trực quan sinh động”, phong trào “phát huy tích cực tính của học sinh”, phong trào “học kết hợp với hành”, “nhà trường gắn liền với hoạt động xã hội” đã được tập thể giáo viên các khối lớp chăm lo thực hiện và đúc  rút kinh nghiệm trong thao giảng ở trường sở tại và cụm trường. Các phong trào trên đã từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần vào nhiệm vụ đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất của địa phương.

Mặc dù trải qua khó khăn về thời kỳ bao cấp, thời kỳ Tháp nhập 2 trường. lại có thiên tai địch hoạ dồn dập, nhưng việc giảng dạy và học tập của trường PTCS vẫn đảm bảo được chất lượng qui định của Bộ. Tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp những năm ghép trường, cấp I đạt xấp xỉ 99%, cấp II đạt 98%.

Việc bồi dưỡng học sinh giỏi cũng không ngừng được tăng cường ở cả 2 khối cấp. Hàng năm trong thời kỳ này mỗi khối cấp đều có học sinh được thi tuyển chọn vào học trường năng khiếu huyện đặt tại Bút Sơn.

Số học sinh thi đỗ vào trường Phổ thông cấp III Hoằng Hoá I quân bình hàng năm có trên 20 em, số được tuyển chọn vào trung cấp, cao đẳng, đại học trên dưới 10 em

Đội ngũ giáo viên ở cả 2 khối cấp, mỗi năm đều có trên 50% đạt danh hiệu lao động tiên tiến. Nhiều năm liền hiệu trưởng nhà trường đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua.

Đối với tổ chức đơn vị, hàng năm trong thời gian từ 1976 đến 1986, cả 2 trường lúc đầu và sau là trường Phổ thông cơ sở nhiều năm đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện, có năm đạt danh hiệu tiên tiến cấp tỉnh, danh hiệu tổ đội lao động XHCN.

+Phong trào mẫu giáo:

Sau hoà bình thống nhất Tổ quốc, từ năm học 1976 – 1977 trở đi, ngành học vỡ lòng được chuyển vào trường cấp I phổ thông. Còn lại gọi là Mẫu giáo.

Từ sự đổi mới này, các cơ sở mẫu giáo trong xã được kiện toàn củng cố. Phụ trách mẫu giáo của xã từ 1975 đến 1986 lần lượt gồm các cô giáo:

- Trần Thị Khuơn (Phượng Ngô 1)

- Lê Thị Lâm (Phục Lễ)

Các lớp học đều đặt ở các thôn. Cơ sở vật chất đều dựa vào nhà dân là chính. Mỗi lớp có từ 1 - 2 cô mẫu giáo. Hàng năm ở mỗi thôn thu hút trên dưới 30 cháu vào lớp mẫu giáo. HTX vẫn tiếp tục chi kinh phí cho các cháu ăn tập trung 1 buổi trong ngày.

Thù lao của cô giáo được HTX chi trả bằng thóc từ 20kg/tháng trong những năm 1976 – 1980, được nâng lên 25 kg/tháng vào các năm 1981 – 1985 ?.

Cơ sở vật chất nghèo nàn, trình độ giáo viên hạn chế, đời sống thấp, nhưng đội ngũ các cô giáo  đã đem hết nhiệt tình khắc phục khó khăn luôn bám lớp, để dạy dỗ các cháu đúng độ tuổi vào học lớp 1 phổ thông. Năm học 1983 – 1984 thực hiện cải cách giáo dục, hầu hết giáo viên mẫu giáo được thay nhau đi học chuyên môn sơ cấp, mỗi năm 3- 4 tháng để nâng cao nghiệp vụ giảng dạy.

+ Phong trào BTVH:

 Bước vào hoà bình, thống nhất Tổ quốc, các lớp BTVH cấp I và cấp II được tháp nhập thành trường “BTVH vừa học vừa làm”.

Hiệu trưởng trường BTVH xã từ 1976 đến 1986 là:.......................

Đáp ứng yêu cầu tổ chức lại sản xuất lớn XHCN, trường BTVH “vừa học vừa làm” trong các năm từ 1976 đến 1983 có .................. lớp từ lớp 4 đến lớp 7 theo hệ cũ, năm học 1983 – 1984 trở đi trường được lập thành trường BTVH theo chương trình văn hóa khoa học kỹ thuật thực hành.

Hàng năm toàn xã có số lượng học viên trên dưới 100 người thuộc cán bộ xã, HTX và một số thanh niên địa phương.

Thời kỳ này, mỗi cụm xã trong huyện có một cán bộ BTVH chuyên trách của phòng Giáo dục được cử về cùng với các ban Giám hiệu trường phổ thông chỉ đạo trực tiếp việc giảng dạy BTVH theo chương trình mới.

Tỷ lệ thi đỗ tốt nghiệp BTVH hệ vừa học vừa làm và sau là trường KHKT thực hành hàng năm đạt xấp xỉ 100% , số lượng học viên được thi đỗ học BTVH cấp 3 hàng năm có khoảng 20 người. Đây là lực lượng ở địa phương được đào tạo có trình độ chuyên môn và trình độ văn hóa cơ bản, góp phần bổ sung vào việc nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ cơ sở.

+Công tác y tế:

Hoà bình thống nhất Tổ quốc, năm 1978 Trạm y tế xã được dời từ nơi sơ tán về cơ sở mới như hiện nay, một nhà cấp 4 được xây dựng với 9 phòng. Trong đó số giường bệnh tăng lên ........ giường, có .......... y sỹ điều trị, 1 nữ hộ sinh trình độ y tá và ............ nhân viên y tế bán thuốc, điều trị.

Trưởng trạm từ 1976 đến 1986 lần lượt gồm:

- Trần Thị Sửu (Phượng Khê)

- Lương Quang Phần (Phượng Ngô 1)

Trạm thời kỳ này được huyện hỗ trợ thêm trang thiết bị thông thường đảm bảo nhu cầu cần thiết cho công tác khám chữa bệnh của nhân dân.

Ngoài chức năng điều trị, từ năm 1981, trạm có thêm chức năng thực hiện các chương trình quốc gia về tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bà mẹ trẻ em. Đặc biệt công tác “dân số kế hoạch hoá gia đình” đến đây được trạm triển khai thường xuyên với hoạt động đặt vòng tránh thai là chủ yếu. Công tác sinh đẻ có kế hoạch đã trở thành cuộc vận động xã hội rộng rãi trong mỗi gia đình, mỗi đội sản xuất nhất là trong hội phụ nữ. Năm 1976 việc sinh đẻ có kế hoạch chưa được đặt ra đúng mức. Đến năm 1978 đã có tới 200 chị em đặt vòng tránh thai đạt tỷ lệ 85% số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, góp phần hạ tỷ lệ tăng dân số từ 2,2% xuống 1,6%.

          Tuy nhiên trong vấn đề quá trình chỉ đạo việc hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số, do không liên tục, bền bỉ nên có lúc việc tăng dân số lại diễn ra. Năm 1985 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong xã lại chiếm 1,8%, phá vỡ yêu cầu nâng cao đời sống nhân dân.

Công tác phòng dịch được trạm quan tâm tích cực. Hàng năm việc tiêm chủng vácxin ngừa bệnh uốn ván, tả, lỵ, sốt rét, sởi, đậu cho nhiều đối tượng nhất là trẻ em và sản phụ được tiến hành ngay tại các đội HTX, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất dịch bệnh xẩy ra, nâng cao sức khỏe người lao động. Phong trào “sạch làng tốt ruộng” cũng được trạm chỉ đạo góp phần cải thiện môi trường sống trong nhân dân.

Ba công trình vệ sinh hợp qui cách đến thời kỳ này cũng được triển khai rộng khắp. HTX đã cấp nguyên vật liệu cho các hộ gia đình xã viên làm nhà tắm, xây giếng nước, hố tiêu, hố tiểu bằng gạch. Toàn xã đã có 90% số hộ có nhà tiêu 2 ngăn, 90% có giếng xây và nhà tắm hợp vệ sinh, đúng quy cách, được phòng y tế huyện khen thưởng là đơn vị có thành tích xuất sắc.

Nổi lên trong đội ngũ này là ông Lương Quang Phần một cán bộ y tế của xã, từ ngày thành lập trạm 1958 đã liên tục gắn bó lăn lộn với phong trào, được nhân dân tín nhiệm.

 

+Hội đông y xã do ông: .................... làm  Hội trưởng.

Hội vẫn duy trì số lương y trực trạm như thời chiến tranh. Để đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe nhân dân, thời kỳ này hội đã lập được vườn dược liệu chuyên sản xuất các loại cây thuốc nam góp phần giải quyết nhiều bệnh thông thường trong nhân dân, thuận tiện cho việc chữa trị Đông – Tây y kết hợp.

Nhiều năm, Hội được công nhận là đơn vị có thành tích phục vụ tốt công tác tổ chức sản xuất lớn ở cơ sở.

+ Về hoạt động thông tin tuyên truyền và văn hóa quần chúng:

Ở thời kỳ này cũng nâng lên bước mới, năm 1976 với sự hỗ trợ của phòng thông tin huyện, toàn xã đã nâng cấp xây dựng mạng lưới truyền thanh trên 1000 loa kim trong gia đình, bình quân 95% số hộ có loa, kịp thời phổ biến tin tức hàng ngày, góp phần nâng cao hiểu biết của nhân dân về tình hình thời sự, xã hội và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Năm 1983 xã đã xây dựng được hội trường làm nơi sinh hoạt truyền thống văn hoá hội họp. Nhiều băngzôn, khẩu hiệu chiến lược về nhiệm vụ chính trị ở thời kỳ mới như: “Tất cả vì Tổ quốc XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân”, “mỗi cơ sở là một pháo đài xây dựng và bảo vệ CNXH”, được dựng lên rộng khắp ở các trung tâm giao thông trong xã, góp phần thu hút mọi tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần làm chủ tập thể XHCN trong sản xuất, xây dựng và bảo vệ hoà bình thống nhất đất nước.

Theo chủ trương của Phòng văn hoá huyện, tủ sách báo địa phương được thành lập chủ yếu là sách báo khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, sách tuyên truyền về “Sống và làm việc theo hiến pháp”, “Sống và lao động, học tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” đã đem đến cho nhân dân nâng cao kiến thức khoa học, kiến thức pháp luật và kiến thức đời sống hàng ngày.

Phong trào TDTT cũng phát triển mạnh, động viên nhân dân, thanh thiếu niên tham gia luyện tập, thu hút mọi người  vào  môi trường sinh hoạt lành mạnh, nâng cao thể chất con người. Phong trào văn nghệ quần chúng được tăng cường. Đội văn nghệ không chuyên của xã thời kỳ này được kiện toàn củng cố. HTX đã dành kinh phí mua sắm thêm các đồ trang sức và có máy tăng âm phục vụ biểu diễn. Ngày lễ, ngày tết, đông đảo nhân dân luôn được thưởng thức những tiết mục tự biên, tự diễn của đội, nâng cao khí thế đi vào tổ chức sản xuất lớn XHCN mà cụ thể là cải tiến và xây dựng qui mô HTX bậc cao.

Phong trào xây dựng gia đình văn hoá mới cũng được phát động sâu rộng trong nhân dân, mặc dù đời sống những năm sau chiến tranh nhất là 1980 - 1985 có nhiều khó khăn. Hoàn cảnh xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực. Một số mặt đạo đức bị xói mòn, nhưng nhân dân ta vẫn gìn giữ và phát huy được truyền thống đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Sự chăm lo, dạy dỗ, giáo dục con cháu trong gia đình vẫn được duy trì theo nếp sống văn minh, lành mạnh. Qua tổng kết phong trào năm 1985, toàn xã đã đạt 80% số hộ được công nhận "Gia đình văn hoá".

* Về công tác khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới.

Từ khi hoà bình thống nhất đất nước, đến năm 1985, toàn xã đã huy động được 9 đợt, gồm 181 hộ, với số khẩu gần 1.057 người đi định cư tại các cơ sở.

          Ngoài các địa điểm tập trung trên, một số hộ trong xã còn đi cấy cư lẻ tẻ tại một số nơi trong tỉnh và ngoài tỉnh như: Đắc Cơ - Buôn Mê Thuột, Bình Phước, Bình Dương và Miền Tây Nam Bộ. Phát huy truyền thống của những năm khai hoang trước, với tinh thần đoàn kết tương trợ, qua mỗi đợt định cư, nhân dân ta đều đóng góp công sức vận chuyển, tiễn đưa bà con đến nơi cư trú mới một cách an toàn, phấn khởi, góp phần mở mang vùng kinh tế mới.

 

II.  Về công tác quốc phòng, an ninh:

Chiến tranh kết thúc, lực lượng dân quân xã được kiện toàn củng cố tổ chức. Toàn HTX bậc cao lập thành một đại đội dân quân, đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy quân sự huyện.

Ban dân quân xã nhà lần lượt do các đồng chí phụ trách gồm:

Lê Ngọc Vơng (Phượng Ngô 2)

Lê Công Dụng (Phượng Ngô 1)

Lường Quang Khánh (Phượng Ngô 2)

Lê Duy Lý (Phượng Ngô 1)

Đại đội dân quân xã thời kỳ này có khoảng (300) đội viên được biên chế thành 8 trung đội theo địa bàn thôn và mỗi đội sản xuất của HTX được tổ chức một tiểu đội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy và sự chỉ đạo chuyên môn của huyện đội, việc huấn luyện chính trị, quân sự, nâng cao cảnh giác cách mạng được đặt ra liên tiếp, có kế hoạch. Các cuộc tập luyện bắn đạn thật cũng được tổ chức theo định kỳ ở xã và cụm xã tại ......... ?.

Năm 1978 – 1979, khi nổ ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và Biên giới phía Bắc Tổ quốc, phong trào huấn luyện vũ trang sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong các tầng lớp nhân dân được xúc tiến khẩn trương.

Toàn xã, hàng loạt thanh niên nam nữ tham gia viết đơn tình nguyện lên đường ra biên giới bảo vệ Tổ quốc. Hầu hết bộ đội xuất ngũ, phục viên đều hăng hái xung phong tái ngũ.

Lực lượng dân quân và các tầng lớp nhân dân ở cơ sở không ngừng ngày đêm nêu cao trách nhiệm xây dựng hậu phương đảm bảo quốc phòng vững chắc.

Mùa xuân 1979 dân quân xã triển khai tổ chức biên chế độ ngũ và huấn luyện chính trị, quân sự một cách khẩn trương. Một số vũ khí mới được trang bị và đưa vào huấn luyện, học tập thường xuyên. Hầu hết các trục giao thông lớn trong xã, các trọng điểm dân cư, trọng điểm kinh tế và ven làng đầu được xây dựng thành những công sự chiến đấu. Việc tuần tra canh gác ở xóm làng cũng được tiến hành liên tục, chặt chẽ. Công tác hậu cần phục vụ huấn luyện được nhân dân cùng với HTX đảm .

Nhiều nguyên vật liệu nhất là gạch, vôi, xi măng do HTX cung cấp và nhân dân ủng hộ được huy động xây dựng hàng chục công sự chiến đấu vững chắc và công sự phòng tránh an toàn trên các trục đường giao thông chiến lược trên địa bàn xã.

Đặc biệt trong công tác thực hiện luật nghĩa vụ quân sự, những năm 1978 - 1980, phong trào tòng quân diễn ra rầm rộ ở địa phương, trong các năm này, con số huy động lên tới 297 người, tương đương với cả thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

          Từ năm 1981 trở đi, thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ ba (1981 - 1985), phong trào thanh niên làm nghĩa vụ quân sự vẫn được tiến hành đều đặn. Hàng năm quân bình có trên 30 thanh niên lên đường nhập ngũ bổ sung quân đội chính quy, thường trực thuộc các binh chủng trong cả nước. Phần lớn số thanh niên ra đi xác định rõ trách nhiệm của mình, đã hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhiều chiến sỹ đã tham gia chiến đấu tại chiến trường biên giới, chiến trường nước bạn, trong đó có nhiều người con của quê hương vĩnh viễn không trở về.

Một khối lượng lương thực, với gần 100 tấn quy thóc cùng nhiều thực phẩm, quần áo, thuốc chữa bệnh được động viên kịp thời chi viện cho các vùng biên giới, nơi có chiến sự  để ủng hộ bộ đội và đồng bào bị địch hoạ.

Công tác an ninh:

Ngành nội chính những năm 1976 – 1986 do các đồng chí Phó chủ tịch UBND lần lượt phụ trách gồm:

.....................

Ban công an xã với số lượng thường trực 4 - 5 người. Theo nhiệm vụ mới, ở đội sản xuất không còn tổ chức mạng lưới công an viên mà thay vào đó là đội bảo vệ của HTX bậc cao đảm trách, vừa làm công tác trật tự an toàn xã hội vừa trông coi việc sản xuất.

Do được giáo dục nâng cao ý thức làm chủ tập thể XHCN với tinh thần cảnh giác Cách mạng triệt để nên suốt thời gian dài tuy thiên tai liên tiếp lẫn địch hoạ nơi này nơi khác diễn ra ở 2 vùng biên giới và đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn trong cơ chế bao cấp, nhưng trên địa bàn xã không xẩy ra điểm nóng về tệ nạn xã hội. Thành tích này của ngành nội chính mà cụ thể là của lực lượng công an xã đã góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống dân cư để tiến hành có kết quả nhiệm vụ cách mạng ở thời kỳ mới.

III. Về công tác Xây dựng Hệ thống chính trị:

          1. Xây dựng Đảng:

Năm 1975, số đảng viên của Đảng bộ có …………. đồng chí. Từ năm 1976  trở đi, số lớn đảng viên bộ đội được chuyển về công tác ở địa phương đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng ở giai đoạn mới.

Từ 1976 đến 1986 qua …….(5) kỳ đại hội Đảng bộ, Bí thư Ban chấp hành Đảng ủy xã được bầu lần lượt gồm:

Nguyễn Như Đăng ( Nghĩa Lập, 1975 – 1981)

Nguyễn Văn Năm (Phượng Khê, 1982 – 1985)

Trần Lương Thiện (Nghĩa Phú, 1985 – 1986) 

Phó bí thư, trực đảng uỷ lần lượt gồm:

…………………………

 

Trong mỗi kỳ đại hội, đảng bộ xã đã nêu cao Nghị quyết kịp thời chỉ đạo tổ chức sản xuất theo phương hướng sản xuất lớn XHCN trong việc củng cố, cải tiến quản lý HTX bậc cao, xây dựng xã thành pháo đài cách mạng XHCN. Ban chấp hành Đảng bộ đã thường xuyên đề ra các Nghị quyết, chuyên đề về tinh thần làm chủ tập thể XHCN trong thời kỳ mới, về phong trào thi đua nhận ruộng khoán, cải tiến hoạt động của các đoàn thể quần chúng phục vụ thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, phát triển thủy lợi, giao thông, văn hoá giáo dục, y tế, đóng góp nghĩa vụ Nhà nước, cải thiện đời sống nhân dân... Những Nghị quyết trên đã tập hợp được ý chí thống nhất của cán bộ, đảng viên nên đã góp phần ổn định đời sống xã hội trong thời kỳ bao cấp.

Trong công tác xây dựng Đảng về cả 3 mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức đều được đảng bộ quan tâm tích cực. Việc giáo dục bồi dưỡng nhận thức chính trị, năng lực chuyên môn ở thời kỳ mới luôn được kết hợp với việc củng cố tổ chức và rèn luyện đạo đức cách mạng ở từng chi bộ, đến từng đảng viên.

Trong 10 năm về cơ bản đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng bộ và chính quyền đều nằm trong thế ổn định và cũng cố thường xuyên. Công tác tổ chức cán bộ của Đảng đã gắn liền với việc xây dựng Đảng bộ "Trong sạch, vững mạnh" việc sử fụng cán bộ cũ và cán bộ mới được đặt ra một cách thích hợp, tạo thêm mối đoàn kết nhất trí trong Đảng bộ về việc phát huy truyền thống kế thừa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ.

          Đối với công tác phát triển Đảng, ngoài số đảng viên ở quân đội và cơ quan chuyển về, toàn Đảng bộ trong 10 năm đã kết nạp được 86 đồng chí, đồng thời qua những lần sinh hoạt chính trị xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh, qua công tác phát thẻ Đảng, cũng đã xử lý kỷ luật kịp thời đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách. Đến năm 1986 trước khi bước vào đổi mới, tổng số đảng viên của Đảng bộ có trên 200 đồng chí, tuyệt đại bộ phận đảng viên đều giữ vững được phẩm chất cách mạng, phát huy được truyền thống tự lực, tự cường, nêu cao ý thức đoàn kết nhất trí, gương mẫu chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ đã có tác dụng to lớn trong việc tăng cường sức chiến đấu của Đảng bộ và tinh thần làm chủ của nhân dân xã nhà.

          Trình độ của đảng viên ở thời kỳ này được nâng lên rõ rệt về chính trị cũng như chuyên môn, văn hoá. Tính đến năm 1986, toàn Đảng bộ có 121 đồng chí đạt trình độ lý luận, sơ cấp 116 đồng chí, trung cấp 5 đồng chí.

          Về chuyên môn đã có 3 đồng chí đạt đại học, 1 đồng chí trung cấp thuộc các ngành quản lý kinh tế, trồng trọt, chăn nuôi 2 trình độ văn hoá cũng phát triển. Trong đó có 36 đồng chí tốt nghiệp tiểu học, phổ thông cơ sở có 136 đồng chí; cấp 1 chỉ còn lại hơn 30 đồng chí, chủ yếu là hoạt động cơ sở.

Thực hiện chủ trương xây dựng Đảng “trong sạch vững mạnh” của Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, Ban chấp hành Đảng bộ xã nhà đã luôn quan tâm đến công tác “tự phê bình và phê bình” trong Đảng, coi đó là phương châm sinh hoạt chính trị thường xuyên của các chi bộ, tổ đảng và đảng viên ở cơ sở. Đồng thời việc lấy ý kiến quần chúng góp ý xây dựng đảng từ cấp uỷ đến đảng viên cũng được tiến hành có nền nếp, nhất là trong đợt phát thẻ “đảng viên đủ tư cách” theo chủ trương của Đảng cấp trên đề ra từ năm 1979.

Tháng 8 năm 1981, trong đợt phát thẻ đầu tiên, toàn Đảng bộ xã đã có ………… đồng chí được phát thẻ “Đảng viên đủ tư cách”, đạt …..% số lượng đảng viên lúc này. Sau phát thẻ đợt đầu, chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng lên rõ rệt qua đấu tranh đoàn kết nội bộ qua rèn luyện tư cách phẩm chất cách mạng, liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

Năm 1985, tổng kết công tác phát thẻ đảng, toàn Đảng bộ đạt gần 100% số

đảng viên đủ tư cách. Số còn lại không đủ tư cách được xử lý thích hợp. Đồng thời Đảng bộ có …….% số chi bộ lúc này đạt tiêu chuẩn chi bộ “trong sạch vững mạnh”, Đảng bộ được Huyện ủy xếp loại ……..

          2.  Xây dựng chính quyền, MTTQ và các tổ chức đoàn thể nhân dân.

          Hoà bình thống nhất Tổ quốc, UBHC các cấp được đổi tên là Uỷ ban nhân dân (UBND).

+ Chủ tịch UBND xã qua các khoá bầu cử HĐND xã thời kỳ 1975 - 1986 lần lượt gồm các đồng chí:

Trương Văn Kham (Phục Lễ, 1975 - 1977)

Nguyễn Văn Năm (Phượng Khê, 1977 - 1981)

Nguyễn Công Dụng (Phượng Ngô 1, 1981 - 1985)

Trần Ngọc Tạng (Phượng Khê, 1985 – 1986)

+ Phó Chủ tịch lần lượt gồm:

……………………………………………

Bộ máy chính quyền ở thời kỳ mới, hầu hết là lực lượng có trình độ văn hoá KHKT và đã kinh qua thực tiễn sản xuất, chiến đấu trên nhiều lĩnh vực. Trong đó có số lớn bộ đội  từ các chiến trường thời chống Mỹ phục viên, xuất ngũ trở về được bầu vào HĐND, UBND, các đoàn thể quần chúng, các ngành đã góp phần làm nòng cốt trong vào việc nâng cao sức mạnh lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ ở cơ sở.

Nhờ vậy, bước vào thời kỳ tổ chức lại sản xuất trên địa bàn còn nhiều khó khăn về đất đai, cây trồng và lại phải đương đầu với thiên tai diễn ra liên tiếp cùng lực lượng thù địch quốc tế, nhưng mọi nhiệm vụ cách mạng ở xã nhà đã được thực thi một cách nghiêm túc, có hiệu quả.

Chức năng của HĐND được quán triệt trong mọi hoạt động đề ra nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội, giám sát mọi mặt công tác ở cơ sở và quyết định những chủ trương quan trọng cần kíp của địa phương.

Vai trò các đoàn thể quần chúng cũng kịp thời được kiện toàn, củng cố và được phát động bằng nhiều phong trào thi đua lớn mạnh, rộng khắp.

+ Mặt trận Tổ quốc: Trưởng ban Mặt trận Tổ quốc xã thời kỳ này gồm:

…………….

Trương Ngọc Phẩm (Phục Lễ)

Nguyễn Như Đăng (Nghĩa Lập)

Lê Thanh Am (Phượng Ngô 2)

Với chức năng động viên đoàn kết dân tộc, xây dựng củng cố các tổ chức thành viên, Mặt trận đã đi sâu vào các phong trào thi đua tổ chức lại sản xuất lớn XHCN, phát triển và cải tiến quản lý HTX bậc cao, ổn định cải thiện đời sống nhân dân, đóng góp nghĩa vụ Nhà nước, thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Việc hiệp thương giới thiệu trong công tác ứng cử, bầu cử đại biểu HĐND các cấp được Mặt trận tích cực thực hiện. Đồng thời Mặt trận đã làm tốt vai trò hoà giải những mâu thuẫn nảy sinh trong cộng đồng dân cư một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng, có hiệu quả.

+ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: Bí thư Đoàn TN Cộng sản HCM thời kỳ này gồm:

Lương Văn Cường (Nghĩa Phú)

Lương Quốc Khánh (Phượng Ngô 2)

Lê Duy Lý (Phượng Ngô 1)

Nguyễn Xuân Chinh (Phục Lễ)

Lê Ngọc Luận (Phượng Ngô 2)

Đoàn Thanh niên đã phát huy phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể” theo chủ trương của Trung ương Đoàn đề ra lúc này gồm 3 tiêu chí:

- Xung kích trên mặt trận lao động sản xuất

- Xung kích trên mặt trận chiến đấu và phục vụ chiến đấu

- Xung kích trên mặt trận học tập tiến bộ.

Với 3 phong trào, Đoàn đã khơi dậy truyền thống kiên cường dũng cảm trong Thanh niên về tinh thần cách mạng tiến công trên các lĩnh vực xây dựng HTX, cải tiến kỹ thuật sản xuất, tham gia nghĩa vụ quân sự, đảm bảo quốc phòng nhất là phong trào tình nguyện lên biên giới. Các phong trào trên đã được ........... ? tặng cờ thi đua “Ba xung kích làm chủ tập thể”.

+ Hội liên hiệp Phụ nữ :  Hội trưởng Hội liên hiệp Phụ nữ xã gồm:

Nguyễn Thị Mởn (Nghĩa Lập)

Lương Thị Tròn (Phục Lễ)

Hội có phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” với 4 nội dung như:

- Lao động sản xuất và chấp hành chính sách tốt.

- Phục vụ chiến đấu và chiến đấu, làm tốt công tác hậu phương quân đội, tham gia giữ gìn trật tự an ninh xã hội.

- Tổ chức tốt cuộc sống gia đình, nuôi dạy con theo 5 điều Bác Hồ dạy.

- Đoàn kết học tập tiến bộ.

Phong trào đã thu hút đông đảo các tầng lớp Phụ nữ tham gia. Năm 1981, bước vào thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ 3 (1981 – 1985) khi Chỉ thị 100 của Ban Bí thư về “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động” ban hành thì phong trào Phụ nữ tham gia tăng năng suất lao động diễn ra sôi động với khẩu hiệu thi đua “vượt sản” của Hội LHPN huyện đề ra. Nhiều chị em đã có thành tích cao trong vượt sản đạt 7 – 8 tấn/ha/năm. Phong trào còn giáo dục động viên Phụ nữ trước đó có xu hướng xa nông thôn đã hăng hái quay về đồng ruộng.

Vai trò Phụ nữ với tinh thần làm chủ lao động trong khoán sản phẩm của HTX nông nghiệp, HTX tiểu thủ công, trong xây dựng kinh tế gia đình, nuôi con khoẻ dạy con ngoan đã kịp thời động viên hầu hết Phụ nữ  tham gia.

Đáng chú ý, trong phong trào xây dựng gia đình văn hóa, 85% số chị em đang ở tuổi sinh đẻ đã tự nguyện đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch, góp phần giảm tỷ lệ sinh tự nhiên từ trên 3% trong chiến tranh xuống dưới 2% vào năm 1986.

Đặc biệt hội đã nêu cao vai trò nòng cốt cùng Mặt trận làm tốt công tác hoà giải ở địa phương, giảm thiểu được nhiều hiện tượng mất đoàn kết nội bộ gia đình, chòm xóm.

Hội Phụ nữ xã nhà trong thời gian 1976 – 1986, đã được hội cấp trên biểu dương là đơn vị có thành tích xuất sắc, được tặng cờ thi đua và nhiều hiện vật có giá trị.

+ Hội Nông dân tập thể : do các đ/c sau phụ trách:

- Lê Văn Phớp (Phượng Ngô 1)

- Cao Văn Tởi (Nghĩa Phú)

Hơn 10 năm hoà bình xây dựng và bảo vệ đất nước thống nhất (1976-1986), nhiệm vụ chính trị to lớn của hội nông dân xã nhà là đẩy mạnh công cuộc tổ chức lại sản xuất theo hướng tiến lên sản xuất lớn XHCN trong hợp tác xã nông nghiệp bậc cao toàn xã. Thi hành Chỉ thị “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động” của Ban bí thư Trung ương Đảng, Đảng bộ đã tổ chức học tập thấm nhuần đến từng hội nông dân trong toàn xã. Sau khi học tập hội đã nhanh chóng phát động làm dấy lên phong trào nhận ruộng khoán, đẩy mạnh xen canh gối vụ, sản xuất vụ Đông và bắt đầu chuyển đổi cây trồng vật nuôi có năng suất cao. Từ gia đình ra đồng ruộng, đâu đâu cũng bừng lên khí thế lao động hăng say của giai cấp nông dân khi họ làm chủ mảnh đất khoán của mình.

Việc đóng góp nghĩa vụ lương thực, thực phẩm, ngày công cho Nhà nước đều được các cấp hội, chấp hành triệt để, thi đua thực hiện đầy đủ và vượt mức chỉ tiêu trên giao.

+ Hội Phụ lão thời kỳ này cũng được tập trung vào các phong trào “xanh hoá đường làng, đồng ruộng” Hội đã dành nhiều công sức gây giống cây và chăm sóc vườn ươm cây phát triển lên hàng chục vạn cây gồm: dừa, phi lao, bạch đàn, xà cừ… đủ số lượng trồng nơi ven đường cái lớn và các trục đường giao thông liên hương, đem lại giá trị hàng triệu đồng, phục vụ yêu cầu sản xuất lớn XHCN ở quê hương.

***

 

    Nhìn lại thời gian từ 1975 đến 1986, trên chặng đường mới bên cạnh thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại là hoà bình thống nhất Tổ quốc thì khó khăn không phải đã chấm dứt.

          Ngoài khó khăn do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, do thiên tai địch hoạ tiếp diễn, còn một khó khăn to lớn bên trong do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài như Đảng ta đã tổng kết, đã làm hạn chế hiệu suất của một quá trình mà công sức bỏ ra nhiều nhưng kết quả thu lại chưa tương xứng với tiềm năng đất đai và sức lao động của xã.

          Gồng mình trước những khó khăn to lớn đó, có lúc tưởng chừng không vượt nổi, song được sự lãnh đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền huyện; đảng bộ, chính quyền xã nhà đã ra sức chỉ đạo thực thi vận dụng các nhiệm vụ xây dựng chính trị, phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước vào địa phương một cách kịp thời, sát hợp, làm chuyển biến đáng kể phong trào cách mạng của quần chúng và có mặt đã đưa lại hiệu quả thiết thực mang tính chiến lược như xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế nhất là hạ tầng thuỷ lợi, một nguyện vọng nhiều đời của nhân dân ta, đã góp phần mở ra thời kỳ phát triển nông nghiệp của địa phương trong giai đoạn đổi mới tiếp theo.

          Thành tích đáng ghi nhận hơn cả là cùng một lúc, đảng bộ lãnh đạo nhân dân đáp ứng nhu cầu vừa cơ bản, vừa cấp bách về ổn định cải thiện đời sống nhân dân sau chiến tranh, vừa tích luỹ để xây dựng CNXH, củng cố giữ vững an ninh chính trị, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Đó là sự nghiệp đầy gian lao thử thách mà Đảng bộ và nhân dân đã vượt qua. Trong mỗi bước đi của Đảng bộ, có sự đoàn kết một lòng một dạ, “thắt lưng buộc bụng” của các tầng lớp nhân dân, trong đó có nhiều người vượt qua những mất mát hy sinh, chắt chiu xây dựng địa phương với ý thức “tất cả vì CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân ta”.

Tổng kết 10 năm sau hoà bình thống nhất đất nước, theo thống kê toàn xã đã huy động đóng góp cho Nhà nước một lực lượng lớn lương thực và thực phẩm …………….. tấn quy thóc và hàng ngàn ngày công xây dựng các công trình lớn sản xuất XHCN được gọi là các công trường thủ công của thế kỷ XX tại tỉnh nhà.

Song song với sự đóng góp cả vật chất và ngày công lao động được cấp trên luôn đánh giá là đơn vị vượt chỉ tiêu. Toàn xã có gần 500 Thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự, cầm súng lên đường bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc.

Trong quá trình thực hiện cải thiện đời sống nhân dân, tuy có nơi có lúc chưa tương xứng với “mồ hôi nước mắt” của nhân dân bỏ ra trong thời kỳ này nhưng cơ bản cũng đã duy trì được cuộc sống ổn định.

Toàn xã đến 1986 cũng đã có trên một nửa số hộ được ngói hoá, có đời sống tinh thần vật chất đổi mới bước đầu. Tỷ lệ hộ đói nghèo tuy chưa được giảm mạnh nhưng đã có chuyển biến từ trên 30% trong chiến tranh xuống còn dưới 30% trong thời bao cấp.

Trình độ dân trí được nâng lên đáng kể với trên 85% thanh thiếu niên có trình độ văn hóa từ cấp II trở lên. Trong đó 30% được học lên cấp III, đại học.

Tuy nhiên tồn tại ở thời kỳ này cũng không phải là ít, lớn nhất là sự trì trệ trong cơ chế quan liêu bao cấp kéo dài. Nhiều tổn thất lớn về kinh tế, về sức lao động như sự lãng phí về đầu tư xây dựng cơ sở HTX bậc cao, ý thức làm chủ trong bảo quản tài sản của HTX và sự quản lý sản phẩm kinh tế HTX chưa thật chặt chẽ, nghiêm túc, không ngoài nguyên nhân do chủ quan gây ra.

Nguyên nhân của những thiếu sót có nhiều song nhìn lại thì đây là thời kỳ có những thành tích đáng ghi nhận, làm tiền đề cho sự phát triển tiếp nối.

Với những đóng góp tích cực như đã nói trên, Đảng bộ và nhân dân xã nhà đã được các cấp chính quyền, đoàn thể, các ngành từ huyện đến Trung ương tặng  nhiều Bằng khen cùng cờ thi đua về các mặt hoạt động kinh tế – xã hội. Đó là niềm cổ vũ động viên kịp thời Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân xã nhà tiến lên trong thời kỳ mới.

           Chương VI: HOẰNG LƯU TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI (1986-2010).

          I. Thực hiện ba chương trình kinh tế: Lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu (1986-1990).

          Tháng 12 năm 1986, Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra đường lối đổi mới toàn diện tạo đà cho nền kinh tế phát triển.

          Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, xã nhà bước vào sự nghiệp đổi mới mà trước hết là thực hiện ba chương trình kinh tế lớn:

          * Về chương trình lương thực, thực phẩm:…

          * Về chương trình hàng tiêu dùng:…

          * Về chương trình hàng xuất khẩu: …

 

 

PHẦN III

THAY LỜI KẾT LUẬN

NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ

          Năm mươi lăm năm qua, kể từ ngày cách mạng tháng 8/1945 thành công, dân tộc ta được sống trong độc lập, tự do, nhưng đã trải qua những chặng đường lịch sử đầy gian nan, thử thách. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của trung ương Đảng, chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kinh yêu, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và bè lũ phản động quốc tế xâm lược, đã giành được thắng lợi vẻ vang. Đất nước ta đang từng bước đi vào kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, với tiềm năng thiên nhiên phong phú, sức lao động dồi dào và tài năng sáng tạo của mỗi người dân Việt Nam làm chủ chân chính.

          Trên chặng đường lịch sử hào hùng ấy, cũng như cả nước, Đảng bộ và nhân dân Hoằng Lưu đã được trưởng thành. Lịch sử phong trào cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Hoằng Lưu được đánh dấu bằng trang sử mới từ ngày 15 tháng 7 năm 1953, ngày chính quyền cách mạng ở địa phương, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua tổ chức chi bộ Đảng đầu tiên của xã được thành lập tại xóm Nội tiến thôn Phục Lễ, đó là ngày truyền thống rất đỗi từ hào của quê hương Hoằng Lưu.

          Từ bấy đến nay, trải qua nhiều thời kỳ khó khăn quyết liệt, nhưng Đảng bộ và nhân dân xã nhà đã vươn lên không ngừng để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng bảo vệ chủ nghĩa xã hội, từng bước nâng cao đời sống nhân dân.

          Thành quả to lớn là: Trong quá trình vận động cách mạng của Đảng, Đảng bộ và nhân dân ta đã tích cực vận dụng thi hành những chủ trương, chíh sách của Đảng, nhà nước một cách kịp thời, đúng đắn và sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương. Bởi vậy, cùng với phong trào đi lên của cách mạng, Đảng bộ và nhân dân xã nhà đã có những bước tién rõ rệt.

          Từ một địa phương ruộng đất xấu và ít, nhân dân luôn phải sống cảnh nghèo đói, lạc hậu triền miên, nhưng kế tục được truyền thống đấu tranh yêu nước của ông cha, nên đã sớm có phong trào cách mạng tiền khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

          Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, từ người nô lệ, nhân dân ta đã được trở thành người chủ tích cực của xã hội mới và ngày càng có đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội phong phú, vững chắc.

          Trong toàn xã hiện nay, hầu hết thanh niên đều có trình độ văn hoá ở bậc trung học cơ sở và phổ thông trung học, hàng trăm con em nhân dân đã được học lên cao đẳng, đại học và trên đại học, có nhiều người được nhà nước cử đi du học ở nước ngoài, nhiều gia đình đã vượt qua khó khăn để cho con em học tập vươn lên tiêu biểu như gia đình anh: Cao Quốc Việt, Nguyễn Văn Cán, Lường Thị Thược.

          Đến năm 2002 toàn xã đã có 4 người đạt học vị tiến sỹ.

          Nhiều người được các cơ quan dân chính, Đảng đề bạt giữ chức vụ cao(1)

          Trong xây dựng quốc phòng, lớp lớp thanh niên xã nhà ra đi, tuyệt đại đa số đã làm tròn nhiệm vụ, mang lại niềm vinh dự cho quê hương, 50 năm qua toàn xã đã có hàng ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ, trong đó có 124 liệt sỹ, có 108 thương binh và bệnh binh, có trên 10 chiến sỹ được phong quân hàm cao cấp, có 2 bà mẹ được truy tặng mẹ Việt Nam anh hùng. Đến nay nhiều người đã hy sinh anh dũng, có người về hưu, mất sức, có người phục viên, có người đang còn tại ngũ, nhưng hầu hết đều thể hiện được đạo đức, năng lực, trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của mình trước nhiệm vụ được giao, đó là niềm tự hào to lớn về truyền thống cách mạng của địa phương.

 

----------------------------------

(1) Xem phần phụ lục

          Nền nông nghiệp trong xã, trải qua trên 5 thập kỷ dưới chế độ mới đã có bước phát triển mạnh mẽ, từ mảnh đất đồng khô chua mặn, Đảng bộ và nhân dân ta đã dày công cải tạo thiên nhiên mở rộng diện tích, du nhập giống mới, tăng vụ gieo trồng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm thuỷ lợi nhằm không ngừng nâng cao sản lượng thu hoạch cho đời sống thường ngày, phong trào hợp tác hoá qua nhiều thời kỳ có lúc mạnh, yếu, khác nhau nhưng đã thực sự góp phần tích cực, đáp ứng sức người, sức của một cách kịp thời, to lớn cho sự nghiệp kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

          Đời sống nhân dân đã có những cải thiện rõ rệt, từ chỗ đã số quần chúng thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu chữ, nhà cửa rách nát trước cách mạng tháng tám năm 1945, đến nay đã có thay đổi căn bản, hầu hết nhân dân trong xã được ngói hoá, có nhiều hộ đã xây nhà bằng, một số hộ đã xây cao tầng. Trong đó nhiều gia đình có phương tiện phục vụ đi lại nhanh chóng và sinh hoạt tinh thần thoải mái. Các cơ sở văn hoá xã hội như: Nhà trẻ, trường học, trạm y tế, hội trường ra đời phục vụ lợi ích thiết thực cho quần chúng.

          Các đối tượng chính sách được quan tâm đúng mức, toàn xã tính đến năm 2000 đã có 124 gia đình được cấp bằng tổ quốc ghi công, 02 bà mẹ được truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", có 02 cán bộ được công nhận tiền khởi nghĩa, có 60 đảng viên được phát huy hiệu đảng viên "40 năm" "50 năm" "60 năm" tuổi Đảng.

          Các quyền lợi chính trị, xã hội, nhất là quyền bình đẳng nam nữ, được thực hiện sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, công tác an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững, bảo đảm thường xuyên sự yên ổn làm ăn của quần chúng, việc đóng góp nghĩa vụ cho nhà nước được tiến hành nhanh chóng và có hiệu quả.

          Bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới theo tiến trình cải tạo đồng ruộng, giao thông, thuỷ lợi và quy hoạch dân cư tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc ăn ở trong xóm làng ngày càng trở nên có vệ sinh, nề nếp. Mối đoàn kết toàn dân trong cộng đồng xã hội với tinh thần tương thân, tương ái được duy trì và ngày một phát triển.

          Đặc biệt hơn nữa thế kỷ qua, tuy có lúc đời sống nhân dân còn có những khó khăn lớn, nhưng nạn đói trầm trọng và dịch bệnh hiểm nghèo đã được giải quyết căn bản, tỷ lệ đói nghèo, sinh đẻ đã giảm rõ rệt.

          Đó là những thành quả to lớn mà Đảng bộ và nhân dân xã nhà đã đạt được dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, những thiếu sót khuyết điểm đã và đang tồn tại cũng không phải là nhỏ, rõ nét nhất là vấn đề xây dựng kinh tế và đời sống của nhân dân trong sản xuất nông nghiệp, trình độ thâm canh thấp, không đồng đều, một số nghề thủ công gần như là nghề truyền thống chưa phát triển mạnh. Nghề mới chưa được du nhập, hầu hết lao động dư thừa phải đi kiếm sống tự do, bởi vậy địa phương vừa không có hàng hoá nông sản vừa không có hàng hoá thủ công, nguồn lợi nuôi trồng thuỷ hải sản ngoại đê và cây trồng nằm xuất là thế mạnh chưa được khai thác triệt để.

          Nguyên nhân của điểm tồn tại này có nhiều, song chủ yếu vẫn là đầu tư đổi mới tư duy kinh tế chưa mạnh trong đội ngũ cán bộ cũng như nhiều tầng lớp nhân dân, các giải pháp chiến lược kinh tế chưa được đề ra cụ thể mà chỉ mới dừng lại ở giải pháp tình thế trong những lúc khó khăn về đời sống xã hội.

          Vai trò Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể nhân dân có nơi, có lúc chưa cao, chưa bắt kịp phong trào chung, việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận chưa thành quy hoạch tổng thể, lâu dài và đồng bộ ở các cơ sở.

          Vai trò làm chủ của nhân dân đã được phát huy qua nhiều thời kỳ lịch sử nhất là những khi có địch hoạ, thiên tai, nhưng trong xây dựng kinh tế chưa được nhân lên mạnh mẽ với khả năng lao động sáng tạo hơn nữa để góp phần vào sự phát triển kinh tế gia đình, xã hội.

          Những thành tích thiếu sót cũng như nguyên nhân trên đã để lại bài học thiết thực cho Đảng bộ xã hôm nay và ngày mai.

          Những bài học đó là:

          1. Nêu cao vai trò hạt nhân lãnh đạo của cán bộ, đảng viên trong việc nghiêm chỉnh chấp hành, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào địa phương một cách triệt để, toàn diện và sâu sắc.

          Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sau 8 năm từ ngày cách mạng tháng 8 năm 1945 giành thắng lợi, chi bộ xã nhà đã được thành lập và ngày càng phát triển.

          Từ 33 đảng viên thuộc chi bộ đầu tiên tổ chức vào ngày 15/7/1953, đến nay Đảng bộ xã nhà có 236 đồng chí đó là con số đáng tự hào.

          Từ ngày ra đời, trải qua 50 năm Đảng bộ là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo thi hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng ở địa phương và đã lần lượt mang lại những thắng lợi to lớn cho nhân dân xã nhà cũng như làm tròn những nghĩa vụ cao cả đối với đất nước.

          Trong quá trình vận động xây dựng Đảng, sức chiến đấu của Đảng bộ không ngừng phát triển, nhiều cán bộ đảng viên được giáo dục, rèn luyện trưởng thành.

          Thực tế 5 thập kỷ qua, chứng tỏ rằng, mỗi khi Đảng bộ đoàn kết nhất trí thông suốt trong mọi nhiệm vụ được giao, vận dụng và thi hành đúng đắn đường lối của Đảng, cán bộ đảng viên tiên phong, gương mẫu, biết đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân thì phong trào quần chúng diễn ra sâu rộng, đời sống nhân dân có bước phát triển rõ rệt, ngược lại những lúc, những nơi cán bộ, đảng viên tư lợi, mất đoàn kết, phẩm chất sa sút thì phong trào quần chúng lúc đó trở nên rời rạc, việc thi hành chính sách của Đảng và nhà nước bị chậm trễ, đời sống nhân dân gặp nhiều lúng túng, khó khăn.

          Những kinh nghiệm đó được rút ra từ thực tế các cuộc cách mạng to lớn của Đảng tại địa phương qua các phong trào từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ xâm lược, từ hoà bình xây dựng đến đổi mới đất nước.

          Những kinh nghiệm đó cũng đã nói lên rằng: Đảng bộ phải là người duy nhất tổ chức trực tiếp và thường xuyên lãnh đạo các tầng lớp nhân dân một cách kịp thời, toàn diện, mỗi chi bộ, mỗi tổ Đảng, mỗi đảng viên phải là hạt nhân lãnh đạo ở từng cơ sở.

          Đó là bài học có ý nghĩa chiến lược lớn lao của Đảng bộ và các phong trào cách mạng cuả địa phương.

          2. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân một cách thiết thực có hiệu quả, phù hợp với quy luật khách quan lịch sử.

          50 năm qua đi theo con đường của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các tầng lớp nhân dân làm "Thay da, đổi thịt" quê hương.

          Trong tiến trình lịch sử, mặc dù 1/2 thời gian là chiến tranh trải qua bao gian nan thử thách quyết liệt trước những kỷ thù hung bạo và những thiên tai ác nghiệt dồn dập, nhưng với ý thức tự chủ, đoàn kết gắn bó, mọi phong trào cách mạng của nhân dân ta đã được phát động sâu rộng và đã thu được những thắng lợi vẻ vang.

          Nhiều tấm gương hy sinh cao cả của quần chúng xuất hiện liên tiếp qua nhiều thời kỳ lịch sử mà biểu hiện cụ thể nhất là trong các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, lớp lớp quần chúng đứng lên đóng góp ngày càng nhiều sức người, sức của cho cách mạng, hàng trăm gia đình trong xã đã cống hiến nhiều cho Đảng, cho nhân dân những người thân của mình.

          Điều đó khẳng định rằng lòng yêu nước và bản chất cách mạng của nhân dân ta thật to lớn, bản chất tốt đẹp đó được khơi dậy nhanh chóng chính là do nhân dân ta có ý thức làm chủ trong xã hội mới mà Đảng bộ biết phát huy quyền làm chủ thiêng liêng của quần chúng.

          Lịch sử phong trào cách mạng của Đảng đã chứng minh vai trò làm chủ của nhân dân là yếu tố quyết định thành công mọi sự nghiệp cách mạng ở địa phương, mỗi khi vai trò làm chủ của quần chúng được tôn trọng, quyền lợi và nghĩa vụ của quần chúng được xác định thì phong trào quần chúng có đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đúng như Đảng ta đã tổng kết "Ở đầu nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thực sự thì ở đấu xuất hiện phong trào cách mạng"(1). Rõ ràng sự nghiệp cách mạng là "Của dân, do dân, vì dân" bởi vậy việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, chăm lo và đổi mới tư duy, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ về phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, xây ựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là bài học có ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với phong trào cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã nhà, hơn bao giờ hết, bài học này càng phải quán triệt mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới của Đảng bộ và nhân dân một cách nghiêm túc.

          3. Bài học về đào tạo đội ngũ cán bộ, phát huy nội lực kết hợp với sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức quần chúng, xã hội, các cá nhan trong và ngoài địa phương.

          Thực tiễn lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã đã chỉ rõ đội ngũ cán bộ có vai trò quyết định trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực thi đường lôi cách mạng của Đảng ở mọi nơi, mọi lúc.

          Trong suốt chặng đường qua, đội ngũ cán bộ của xã đã được Đảng bộ đào tạo, bồi dưỡng giáo dục trưởng thành, có những thời gian Đảng bộ trải qua những thử thách sóng gió, quyết liệt nhưng qua đấu trang, đoàn kết nội bộ, có lý, có tình, không để mất cán bộ và bản thân cán bộ đã tự rèn luyện nhiều nên nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu nhất định trong việc "Đứng mũi chịu sào" gánh vác công việc chung, tuy vậy, sự vươn lên tư duy đổi mới vẫn hạn chế cán bộ chưa được đào tạo đồng bộ ở các thôn nên phong trào cách mạng trong  thời kỳ này còn những chênh lệch, chưa có thế mạnh toàn diện, đồng đều. Những năm gần đây, đội ngũ cán bộ được trẻ hoá có năng lực và phẩm chất cách mạng nhưng trình độ về chỉ đạo, quản lý kinh tế vẫn còn bất cập. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng phải vươn lên mạnh mẽ, mới có khả năng đáp ứng yêu cầu chiến lược, nâng cao đời sống nhân dân trong điều kiện xã nghèo về đất đai canh tác.

          Sự tranh thủ hỗ trợ của cấp trên và bên ngoài được xúc tiến trong những năm đổi mới đã góp phần đem lại hiệu quả cụ thể trong xây dựng cơ sở vật chất địa phương. Đấy là bài học quý rút ra từ sự phát triển kinh tế tri thức mà địa phương đã có, tuy nhiên nguồn lực này chỉ được phát huy mạnh mẽ khi có những chủ trương, biện pháp tích cực phát triển tiềm lực tri thức địa phương một cách lâu dài, đúng đắn.

          Vì vậy, việc chăm lo đào tạo nguồn lực cả bên trong và bên ngoài mà bên trong và tại chỗ là chủ yếu, nhằm chắp cánh cho đội ngũ cán bộ địa phương vươn lên, xứng

 

 
 
 


(1) Đảng cộng sản Việt Nam "Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, NXB Hà Nội 1987, trang 109"

 

đáng với tấm gương "Giàu nhân tâm" "Sáng tư duy" vì Đảng, vì dân, vì quê hương đất nước của lớp người tiêu biểu đi trước, là bài học quý giá cho cả hôm nay và ngày mai.

          Thế kỷ XX trải qua biết bao gian khổ, đau thương nhưng đã được kết trong niềm kiêu hãnh của dân tộc ta bằng độc lập, thống nhất toàn viên, và đổi mới giang sơn đất nước theo đường lối cách mạng đúng đắn sáng tạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu đã vạch ra.

          Từ đỉnh cao hôm nay nhìn về quá khứ, chúng ta càng thêm tự hào và trân trọng lớp lớp những người đi trước đã đổ bao công sức, máu xương để góp phần xây dựng nên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tươi sáng trên quê hương đất nước ngàn năm yêu dấu.

          Bước vào kỷ nguyên mới, chắc chắn những thử thách to lớn còn ở phía trước, song những gì có được trong quá khứ mãi mãi là truyền thống tốt đẹp, cao quý để lại cho Đảng bộ và nhân dân xã tiến bước vững chắc trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà dưới sự lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam quang vinh.

 

 

 

 

 

 

PHẦN PHỤ LỤC

Tổng lương thực từ năm 1970 đến năm 2009

của Đảng bộ Hoằng Lưu

TT

Năm

Đơn vị tính

Lượng

Ghi chú

1

1970

Tấn

1.250

Sổ ghi của các đồng chí làm trước

2

1971

Tấn

1.210

Sổ ghi của các đồng chí làm trước

3

1972

Tấn

1.175

Sổ ghi của các đồng chí làm trước

4

1973

Tấn

1.020

Sổ ghi lại của các đồng chí làm trước

5

1974

Tấn

1.345

Sổ ghi lại của các đồng chí làm trước

6

1975

Tấn

1.237

Sổ ghi lại của các đồng chí làm trước

7

1976

Tấn

1.350

Sổ ghi lại của các đồng chí làm trước

8

1977

Tấn

1.315

Sổ ghi lại của các đồng chí làm trước

9

1978

Tấn

1.475

Sổ ghi lại của các đồng chí làm trước

10

1979

Tấn

1.500

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1979 - 1981 (Ngày 12/11/1979)

11

1980

Tấn

1.560

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1979 - 1981 (Ngày 12/11/1979)

12

1981

Tấn

1.517

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1981 - 1983 (Ngày 20/10/1981)

13

1982

Tấn

1.568

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1981 - 1983 (Ngày 20/10/1981)

14

1983

Tấn

1.522

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1983 - 1985 (Ngày 30/10/1983)

15

1984

Tấn

1.657

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1983 - 1985 (Ngày 30/10/1983)

16

1985

Tấn

1.612

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1985 - 1987 (Ngày 25/10/1985)

17

1986

Tấn

1.572

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1985 - 1987 (Ngày 25/10/1985)

18

1987

Tấn

1.691

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1987 - 1989 (Ngày 8/11/1987)

19

1988

Tấn

1.823

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1987 - 1989 (Ngày 8/11/1987)

20

1989

Tấn

1.900

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1989 - 1994 (Ngày 20/9/1994)

21

1990

Tấn

1.691

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1989 - 1994 (Ngày 20/9/1994)

22

1991

Tấn

2.016

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1989 - 1994 (Ngày 20/9/1994)

23

1992

Tấn

1.882

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1989 - 1994 (Ngày 20/9/1994)

24

1993

Tấn

2.133

Báo cáo UB nhiệm kỳ 1989 - 1994 (Ngày 20/9/1994)

25

1994

Tấn

1.850

Báo cáo UB ngày 20/02/1995

26

1995

Tấn

2.200

Báo cáo UB ngày 20/02/1996

27

1996

Tấn

2.300

Báo cáo UB ngày 02/02/1997

28

1997

Tấn

2.307

Báo cáo Đảng uỷ ngày 9/9/2000

29

1998

Tấn

2.215

Báo cáo UB ngày 28/12/1998

30

1999

Tấn

2.398

Báo cáo UB ngày 20/01/2000

31

2000

Tấn

2.577

Báo cáo UB ngày 02/01/2001

32

2001

Tấn

2.533

Báo cáo UB ngày 30/12/2001

33

2002

Tấn

2.725

Báo cáo UB ngày 30/12/2002

34

2003

Tấn

2.966

Báo cáo UB ngày 30/12/2003

35

2004

Tấn

3.003

Báo cáo UB ngày 30/12/2004

36

2005

Tấn

2.697

Báo cáo UB ngày 30/12/2005

37

2006

Tấn

3.119

Báo cáo UB ngày 30/12/2006

38

2007

Tấn

2.913

Báo cáo UB ngày 30/12/2007

39

2008

Tấn

2.529

Báo cáo UB ngày 30/12/2008

40

2009

Tấn

2.826

Báo cáo UB ngày 30/12/2009

 

DANH SÁCH

CHỦ TỊCH - PHÓ CHỦ TỊCH UBND HUYỆN - THỊ QUA CÁC THỜI KỲ

 

TT

Họ và tên

Chức vụ

Địa điểm làm việc

Quê quán

1

Nguyễn Đình Hiếu

Chủ tịch

UBND huyện Hoằng Hoá

Phục Lễ

2

Trần Kim Bôi

PCT

Huyện Đắc Nông - Đắc Lắc

Nghĩa Phú

 

DANH SÁCH

BAN CHẤP HÀNH HUYỆN - THỊ (HUYỆN UỶ - THỊ UỶ) QUA CÁC THỜI KỲ

TT

Họ và tên

Chức vụ

Địa điểm làm việc

Quê quán

1

Nguyễn Đình Hiếu

BT huyện uỷ - Chủ tịch HĐND huyện

Huyện uỷ Hoằng Hoá

Phục Lễ

2

Chu Hữu Nhẫn

HUV

Huyện uỷ Hoằng Hoá

Phượng Ngô 1

3

Trương Văn Đào

HUV

Huyện uỷ Hoằng Hoá

Phục Lễ

4

Trần Kim Bôi

TVHU

Đắc Nông - Đắc Lắc

Nghĩa Phú

5

Lê Văn Vân

TVHU

Lang Chánh

Phượng Ngô 2

6

Lê Ngọc Đằng

Huyện uỷ

Hoằng Hoá

Phượng Ngô 1

7

Nguyễn Văn Đức

TV Huyện uỷ

Cờ Rai Mông-Đắc Lắc

Nghĩa Lập

8

Trần Ngọc Biên

TV HU

Huyện Văn Chấn-Yên Bái

Phục Lễ

9

Trương Ngọc Dần

TUV

Tỉnh Quảng Ninh

Phục Lễ

10

Trương Ngọc Liên

TUV

Tỉnh Yên Bái

 

 

DANH SÁCH BÍ THƯ CHI BỘ SAU NÀY BÍ THƯ ĐẢNG BỘ QUA CÁC THỜI KỲ

 

TT

Họ và tên

Từ năm đến năm

Quê quán

1

Lê Doãn Văn

7/1953 - 1954

Phục Lễ

2

Cao Văn Tởi

1954 - 1957

Nghĩa Phú

3

Lê Ngọc Hạ

1958 - 1959

Phượng Ngô 2

4

Lê Ngọc Qườn

1960 - 1961

Phượng Ngô 1

5

Nguyễn Như Đăng

1961 - 01/1968

Nghĩa Lập

6

Lương Văn Vạn

2/1968 - 12/1968

Nghĩa Phú

7

Nguyễn Như Đăng

1969 - 1981

Nghĩa Lập

8

Nguyễn Văn Năm

1982 - 8/1985

Phượng Khê

9

Trần Lương Thiện

8/1985 - 3/1988

Nghĩa Phú

10

Trần Lương Thiện

4/1988 - 1991

Nghĩa Phú

11

Lương Văn Cường

1991 - 1993

Nghĩa Phú

12

Lương Văn Cường

1993 - 1995

Nghĩa Phú

13

Lê Công Dụng

1996 - 2000

Phượng Ngô 1

14

Trần Lương Thiện

2001 - 11/2007

Nghĩa Phú

15

Trương Văn Đào

12/2007 - 5/2010

Thị Trấn Bút Sơn

16

Nguyễn Thị Nhiễu

15/5/2010

Nghĩa Phú

 

DANH SÁCH

CHỦ TỊCH UBND XÃ QUA CÁC THỜI KỲ

TT

Họ và tên

Thời gian công tác

Nơi ở

1

Lê Ngọc Bờn

1953 - 6/1954

Phượng Ngô 1

2

Trương Ngọc Tâm

7/1954 - 9/1955

Phục Lễ

3

Lương Văn Tri

10/1955 - 11/1957

Nghĩa Phú

4

Lê Ngọc Qườn

12/1957 - 12/1958

Phượng Ngô 1

5

Nguyễn Như Đăng

01/1959 - 12/1960

Nghĩa Lập

6

Cao Văn Tởi

01/1961 - 12/1966

Nghĩa Phú

7

Lê Văn Mây

1967 - 3/1975

Phượng Ngô 2

8

Trương Văn Kham

4/1975 - 6/1977

Phục Lễ

9

Nguyễn Văn Năm

7/1977 - 12/1981

Phượng Khê

10

Lê Công Dụng

01/1982 - 8/1985

Phượng Ngô 1

11

Trần Ngọc Tạng

9/1985 - 10/1987

Phượng Khê

12

Nguyễn Xuân Chinh

11/1987 - 11/1989

Phục Lễ

13

Lương Văn Cường

12/1989 - 3/1991

Nghĩa Phú

14

Nguyễn Xuân Chinh

01/1991 - 10/1993

Phục Lễ

15

Lê Công Dụng

11/1993 - 12/1995

Phượng Ngô 1

16

Lương Văn Cường

01/1996 - 10/1999

Nghĩa Phú

17

Trần Ngọc Nho